Luật sư bào chữa quyền đòi lại tài sản theo Bộ luật dân sự
Luật sư bào chữa quyền đòi lại tài sản theo Bộ luật dân sự
Luật sư bào chữa quyền đòi lại tài sản theo Bộ luật dân sự
– Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu vi phạm quy định về chiếm hữu có căn cứ pháp luật hoặc người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Vậy nên trong trường hợp này, chủ sở hữu và chủ thể có quyền khác đối với tài sản đều có quyền đòi lại tài sản
– Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó do pháp luật có những quy định đặc biệt để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người có quyền khác đối với tài sản và họ được thực hiện một số quyền năng nhất định trên tài sản của người khác.
1.Đòidi sản thừa kế từ người chiếm hữu bất hợp pháp
Đất đai do bố mẹ qua đời để lại,người được giao trông nom tự ý làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất liệu có đòi lại được và việc chia thừa kế sẽ được thực hiện như thế nào khingười để lại di sản không để lại di chúc?
Câu hỏi:
Sự việc của gia đình tôi như sau:
Bố mẹ tôi là ông N.D.P (mất năm1946), mẹ tôi là bà P.T.N (mất năm 1965). Khi qua đời không để lại di chúc, disản thừa kế là mảnh đất được xác lập bằng khoán điền thổ từ tời Pháp thuộc.Chúng tôi gồm 05 người con: N.V.P (qua đời năm 1990); N.D.L(qua đời năm 2010);N.T.G (sinh năm 1937); N.D.B (sinh năm 1942); N.D.T (sinh năm 1944).
Khi bố mẹ tôi qua đời do các anh emđều lập gia đình và đi làm ăn xa. 5 anh em thống nhất tạm giao cho cụ N.T.B(người giúp việc của gia đình) trông coi mảnh đất để hàng năm anh em về hươngkhói cho các cụ.
Đến năm 1990 không rõ vì nguyên nhângì cụ N.T.B lại được cấp sổ đỏ trên phần đất là di sản thừa kế của bố mẹ tôi đểlại.
Năm 2005 Cụ N.T.B có làm đơn xintrao trả lại đất có cả chữ ký của ba người con nhưng vẫn chưa được UBND giảiquyết.
Năm 2014 Cụ N.T.B qua đời.
Năm 2020, con cụ N.T.B là bà P.T.Vbất ngời làm thủ tục kê khai di sản thừa kế của cụ N.T.B không chịu trả lại phầndi sản của bố mẹ tôi.
Hỏi trường hợp này gia đình chúngtôi có thể làm gì?
Trân trọng cảm ơn./.
Luật sư Gia Đình trả lời:
1. Cơ sở pháp lý:
- Bộ luật Dân sự 2015;
- Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP.
2. Luật sư tư vấn:
Căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quyđịnh về thừa kế theo pháp luật như sau:
“Điều 651. Người thừa kế theo phápluật
1. Những người thừa kế theo phápluật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ,chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ôngnội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội,cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột củangười chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậuruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàngđược hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sauchỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, khôngcó quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”
Như vậy, đối với trường hợp người đểlại di sản qua đời mà không để lại di chúc thì việc chia thừa kế sẽ được thựchiện theo pháp luật. Cụ thể là chia theo hàng thừa kế theo thứ tự hàng thứ 1,hàng thứ 2, hàng thứ 3. Nếu hàng thứ 1 không còn ai sẽ thực hiện chia đến hàngthứ 2 và nếu hàng thứ 2 không còn ai sẽ thực hiện chia đến hàng thứ 3.
Theo thông tin anh cung cấp 1 phầndi sản thừa kế đang nằm ở thừ 193 mang tên cụ N.T.B đã bị cấp sổ sai từ năm1990 sau đó có làm đơn trả lại đất nhưng chưa thực hiện xong thì cụ N.T.B quađời. Hiện tại bà P.T.V đang muốn làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế.
Căn cứ Điều 612 Bộ luật dân sự 2015quy định về Di sản như sau
“Điều 612. Di sản
Di sản bao gồm tài sản riêng củangười chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”
Đồng thời căn cứ Điểm Điểm b mục 2.4Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định như sau:
“b) Trường hợp người chết để lại disản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà disản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theoỦy quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại disản”.
Như vậy, trong trường hợp này nếu disản để lại đang bị chiếm hữu sử dụng trái phép, hoặc cấp GCNQSDĐ không đúngtheo quy định pháp luật thì hàng thừa kế có quyền khởi kiện đòi lại di sản,đồng thời yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trước đó.
Hiện nay đã có biên bản làm việcngày 11 tháng 11 năm 2020 của UBND xã Đ. Theo đó các bên không thống nhất đượcphương án giải quyết do đó hiện nay bên gia đình sẽ phải tiến hành khởi kiện raTòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết vì lý do có liên quan đến yêu cầu hủy giấychứng nhận quyền sử dụng đất.
2.Chia di sản thừa kế khi đã hết thời hiệu khởi kiện
Câu hỏi: Gia đình tôi đang muốn phânchia quyền sử dụng do bố mẹ chúng tôi để lại, mẹ tôi chết năm 1977, bố tôi chếtnăm 1998 không để lại di chúc. Bố mẹ chúng tôi chỉ sinh được 08 người con,trong đó môt bà chị đã chết năm 1945 ( lúc 2 tuổi), một bà chị khác đã chết năm1974 ( có chồng và 03 người con).
Hiện tại, trên đất có vợ chồng ngườicon trai cả của bà chị đã chết năm 1974 sinh sống. Gia đình tôi cho các cháu ởnhờ, trong nom đất đai, anh chị em chúng tôi đi làm công tác xa, thỉnh thoảngmới về quê chơi.
Đến nay, anh chị em chúng tôi muốnlàm GCNQSD đất, vậy xin hỏi luật sư 03 người con của bà chị (đã chết năm 1974)có được hưởng thừa kế, thế vị hay không?
Rất mong nhận được sớm sự hướng dẫncủa luật sư!
Xin chân thành cảm ơn!
Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏiđề nghị tư vấn đến Văn Phòng Luật Sư Gia Đình, trường hợp của bạn chúng tôi tưvấn như sau:
Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 quyđịnh về thời hiệu thừa kế như sau:
“1. Thời hiệu để người thừa kế yêucầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từthời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đangquản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì disản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của ngườiđang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếukhông có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.”
Bên cạnh đó, tại Phần 1 Giải đáp01/GĐ-TANDTC năm 2018 có quy định đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày10-9-1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thựchiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tạiNghị quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dântối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là:thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990.
Do đó, với trường hợp của bạn, mẹbạn mất năm 1977, bố bạn mất năm 1998 căn cứ theo quy định trên thì thời hiệuyêu cầu phân chia di sản thừa kế vẫn còn. Do vậy, các đồng thừa kế trong trườnghợp này vẫn có quyền yêu cầu phân chia di sản thừa kế.
Thắc mắc của bạn về quyền thừa kếthế vị của 3 người con của bà chị đã chết, theo quy định tại Điều 652 Bộ luậtdân sự 2015 về thừa kế thế vị thì: “Trong trường hợp con của người để lại disản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu đượchưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháucũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt đượchưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”
Theo thông tin bạn cung cấp thìngười người chị này mất năm 1974, mẹ mất năm 1977, bố mất năm 1998. Như vậy,người chị này mất trước bố mẹ, do đó con của người chị sẽ được hưởng phần disản mà người chị này được hưởng nếu còn sống theo quy định tại Điều 652 nêutrên, tức là 3 người con của người chị sẽ được thừa kế thế vị.
3.Quyền đòi lại tài sản theo Bộ luật dân sự 2015
Đối với trường hợp là người có hànhvi đối với tài sản không có căn cứ pháp luật
– Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khácđối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu vi phạm quy định vềchiếm hữu có căn cứ pháp luật hoặc người sử dụng tài sản, người được lợi về tàisản không có căn cứ pháp luật. Vậy nên trong trường hợp này, chủ sở hữu và chủthể có quyền khác đối với tài sản đều có quyền đòi lại tài sản
– Chủ sở hữu không có quyền đòi lạitài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó dopháp luật có những quy định đặc biệt để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ngườicó quyền khác đối với tài sản và họ được thực hiện một số quyền năng nhất địnhtrên tài sản của người khác.
Đối với trường hợp là người chiếmhữu ngay tình
Nhưng đối với người chiếm hữu ngaytình, pháp luật có những quy định riêng đối với loại chủ thể này, cụ thể nhưsau:
Quyền đòi lại động sản không phảiđăng ký quyền sở hữu
Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sảnkhông phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợpsau:
+ Hợp đồng không có đền bù: Nếungười chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đềnbù với người không có quyền định đoạt tài sản
+ Hợp đồng có đền bù: Nếu ngườichiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng có đền bù và độngsản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủsở hữu.
Quyền đòi lại động sản phải đăng kýquyền sở hữu hoặc bất động sản
– Chủ sở hữu được đòi lại động sảnphải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình.
– Các trường hợp không được đòi lại:
+ Đối với tài sản đã được đăng kýtại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịchdân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đómà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó có hiệu lực và tài sản khôngbị đòi lại.
+ Đối với tài sản phải đăng ký màchưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng người thứ ba ngaytình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặcgiao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩmquyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữutài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa thì tài sản không bị đòi lại.
4.Quá 30 năm vẫn còn thời hiệu khởi kiện thừa kế đất đai
KHÁCH HÀNG HỎI
Kính gửi luật sư, tôi năm nay 60tuổi, anh em tôi đang tranh chấp về tài sản của bố mẹ để lại, tôi đã nhờ xã hòagiải nhưng không thành. Do thời gian qua tôi bận quá, lại do anh tôi cứ hứa làmấy năm nữa sẽ chia cho tôi 1 mảnh đất, nhưng suốt bao năm nay không thực hiện.Bây giờ tôi muốn khởi kiện ra tòa có được thụ lý không? Bố mẹ tôi cùng mất năm1981 mà tôi nghe nói cán bộ xã giải thích là sau năm 2011 là tôi không có quyềnkhởi kiện nữa, nhà đất mà bố mẹ tôi để lại bây giờ là của em trai tôi có đúngkhông.
Mong được luật sư tư vấn.
Văn Phòng Luật Sư Gia Đình tư vấn:
Chào bác,
Cảm ơn bác đã gửi câu hỏi tư vấn tớiVăn Phòng Luật Sư Gia Đình, về câu hỏi của bác Luật sư tư vấn cho bác như sau:
1. Hết thời hiệu khởi kiện di sảnthừa kế sẽ thuộc về ai?
Theo quy định tại Điều 623 Luật Dânsự năm 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện thì: “Thời hiệu để người thừa kếyêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kểtừ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kếđang quản lý di sản đó”.
Chiểu theo quy định trên thì việccán bộ xã giải thích nội dung nếu đã hết thời hiệu khởi kiện thì nhà đất của bốmẹ bác để lại thuộc về em trai của bác nếu người em này đang trực tiếp quản lýsử dụng nhà đất là đúng.
2. Hết 30 năm kể từ thời điểm mởthừa kế có còn thời hiệu khởi kiện không?
Về thời hiệu khởi kiện phân chia disản thừa kế thì ngoài Luật Dân sự còn có Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về thờihiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự “tranh chấp về thừa kế tàisản”. Theo đó:
– Thời hiệu để người thừa kế yêu cầuchia tài sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.
– Đối với trường hợp thừa kế mởtrước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất độngsản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh thừa kế năm 1990 vàhướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán TANDTChướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: Thời hiệukhởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990.
Bên cạnh đó, ngày 05/1/2018 Tòa ánnhân dân tối cao cũng có Công văn số 01/GĐ-TANDTC giải đáp về một số nghiệp vụcũng hướng dẫn: “Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10-9-1990 thì thờihiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy địnhtại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướngdẫn áp dụng mộtsố quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: thời hiệu khởikiện được tính từ ngày 10-9-1990”
Từ những cơ sở pháp lý Luật sư nêutrên thì trường hợp của bác vẫn còn thời hiệu khởi kiện và thời hiệu này kéo dàiđến ngày 10/9/2020 bác nhé.
6.Trường hợp nào vợ hai được thừa kế tài sản của chồng?
Trong trường hợp vợ cả đã qua đời vàngười chồng lấy thêm vợ hai, thì người vợ mới này có được quyền hưởng tài sảnthừa kế gì không nếu chồng mất?
1. Trường hợp người chồng trước khimất có để lại di chúc
Theo Điều 626 Bộ luật dân sự 2015,người lập di chúc có quyền sau đây:
- Chỉ định người thừa kế, truấtquyền hưởng di sản của người thừa kế
- Phân định phần di sản cho từngngười thừa kế
- Dành một phần tài sản trong khốidi sản để di tặng, thờ cúng
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế
- Chỉ định người giữ di chúc, ngườiquản lý di sản, người phân chia di sản
Như vậy, trong trường hợp này, ngườichồng toàn quyền quyết định việc để lại di sản cho bất cứ ai, không nhất thiếtphải là những người trong hàng thừa kế theo luật định. Việc người vợ hai cóđược hưởng di sản thừa kế của chồng hay không sẽ pụ thuộc vào nội dung của dichúc này.
Tuy nhiên, để di chúc có hiệu lực vàđưa vào áp dụng, đảm bảo quyền lợi của người hưởng thừa kế thì di chúc đó phảilà di chúc hợp pháp. Tức là phải đảm bảo các điều kiện được quy định tại Điều630 Bộ luật dân sự 2015, ví dụ như: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trongkhi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Nội dung của di chúc khôngvi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc khôngtrái quy định của luật...
2. Trường hợp người chồng không đểlại di chúc
Nhiều trường hợp người mất đột ngộtdo tai nạn, đột tử hoặc vì lý do nào đó mà không để lại di chúc, thì sẽ phânchia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Khi đó, việc người vợ hai cóđược hưởng di sản của chồng hay không còn phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân của họvới người quá cố. Lúc này sẽ xảy ra 1 trong 2 trường hợp như sau:
Người vợ hai và chồng đã đăng ký kếthôn
Trong trường hợp này, người vợ haiđã được công nhận là vợ hợp pháp. Vì vậy, nếu người chồng mất và không để lạidi chúc, người vợ hai sẽ được hưởng thừa kế hàng thứ nhất theo quy định tạiĐiều 651 Bộ luật dân sự 2015.
Hàng thừa kế thứ nhất này gồm có:vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ởhàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trướcdo đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từchối nhận di sản.
Người vợ hai và chồng chưa đăng kýkết hôn
Nếu chỉ chung sống như vợ chồng màkhông đăng ký kết hôn, thì về mặt pháp luật, người vợ hai này sẽ không đượccông nhận có quan hệ hôn nhân với người chồng quá cố. Mặt khác, người chồng lạikhông để lại di chúc nên người vợ hai sẽ không được quyền hưởng di sản thừa kếtừ chồng.
Trường hợp ngoại lệ, Pháp luật Hônnhân và gia đình Việt Nam có công nhận quan hệ vợ chồng nếu nam nữ chung sốngnhư vợ chồng từ trước năm 1987. Tức là trường hợp không có đăng ký kết hôn màhai người chung sống với nhau từ trước 1987 đến nay thì được coi là quan hệ hônnhân thực tế và được công nhận quan hệ vợ chồng. Đồng thời, người vợ này cóquyền thừa kế với khối di sản mà chồng để lại (không có di chúc) giống như đãphân tích ở trường hợp thứ nhất.
Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV,THVL1, ANTV, SCTV1...
Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều độingũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độcao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năngtư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghềnghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luậtsư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân,tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khókhăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thùhằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, cótài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh vàchấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sốngcủa mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui củaluật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại côngbằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.
Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng vănphòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinhnghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiềunăm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hìnhuy tín như: Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam(VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tưvấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV GiaoThông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình QuốcHội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và phápluật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trêncả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo chonhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật vớitrường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luậtcho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn chonhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin,người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank,Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụGiết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái...và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính,doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tíchcực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sưchúng tôi.
Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lýcho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.
Trân trọng cảm ơn!.
