1/ Trong Nghị định 24, có đề xuất điều chỉnh cơ chế độc quyền sảnxuất vàng miếng. Vậy để bãi bỏ cơ chế này, các doanh nghiệp cần điều kiện gì đểđược cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng?

Trước đây, tại Điều 4 Nghị định24/2012/NĐ-CP quy định nguyên tắc quản lý hoạt động kinh doanh vàng như sau:“…3. Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng,xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng…”

Theo quy định trên thì nhà nước độcquyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyênliệu để sản xuất vàng miếng. Tuy nhiện, tại Nghị định 232/2025/NĐ-CP đã bãi bỏkhoản 3 Điều 4 của Nghị định 24/2012/NĐ-CP.

Đồng thời, theo Khoản 7 Điều 1 Nghịđịnh 232/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ 10/10/2025) sửa đổi, bổ sung một số điều củaNghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng thì doanh nghiệphoặc ngân hàng thương mại muốn được cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng phải đáp ứngcác điều kiện sau:

“Điều 1. Sửa đổi, bổ sung mộtsố điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ vềquản lý hoạt động kinh doanh vàng

7. Bổ sung Điều 11a sau Điều 11 như sau:

“Điều11a. Điều kiện cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng

1.Doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép sản xuất vàng miếngkhi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) CóGiấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng;

b) Cóvốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng trở lên;

c)Không bị xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh vàng hoặc bị xửphạt vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh vàng nhưng đã thực hiện xongcác biện pháp khắc phục hậu quả theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cáckiến nghị có thời hạn thực hiện tại Kết luận thanh tra, kiểm tra của cơ quannhà nước có thẩm quyền (nếu có);

d) Cóquy định nội bộ quy định về sản xuất vàng miếng bao gồm những nội dung cơ bảnnhư quy trình nhập nguyên liệu; quy trình sản xuất vàng miếng; quy trình giámsát sản xuất; quy trình kiểm soát chất lượng sản phẩm.

2. Ngânhàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép sản xuất vàngmiếng khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) CóGiấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng;

b) Cóvốn điều lệ từ 50.000 tỷ đồng trở lên;

c)Không bị xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh vàng hoặc bị xửphạt vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh vàng nhưng đã thực hiện xongcác biện pháp khắc phục hậu quả theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cáckiến nghị có thời hạn thực hiện tại Kết luận thanh tra, kiểm tra của cơ quannhà nước có thẩm quyền (nếu có);

d) Cóquy định nội bộ quy định về sản xuất vàng miếng bao gồm những nội dung cơ bảnnhư quy trình nhập nguyên liệu; quy trình sản xuất vàng miếng; quy trình giámsát sản xuất; quy trình kiểm soát chất lượng sản phẩm.

3.Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định hồ sơ, thủ tục cấp Giấy phép sản xuấtvàng miếng.”

Như vậy, thay vì Nhà nước độc quyền như trước đây,khuôn khổ pháp lý mới mở ra cánh cửa cho các doanh nghiệp, ngân hàng đủ điềukiện tham gia, nhưng đi kèm là yêu cầu rất chặt chẽ nhằm bảo đảm an toàn thịtrường và quyền lợi người tiêu dùng.

2/ Ngoài vàng miếng, nghị định mới còn bổ sung trách nhiệm pháp lýcủa doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Theo ông/bà, những nghĩa vụmới này sẽ tác động thế nào đến thị trường, đặc biệt là việc quản lý chất lượng,truy xuất nguồn gốc và quyền lợi người tiêu dùng?

Căn cứ Khoản 9 Điều 1 Nghị định232/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ 10/10/2025) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghịđịnh 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng thì tráchnhiệm của doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ là:

“Điều 1. Sửa đổi, bổ sung mộtsố điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ vềquản lý hoạt động kinh doanh vàng

9. Sửađổi, bổ sung Điều 14 như sau:

“Điều14. Xuất khẩu, nhập khẩu vàng

10.Trách nhiệm của các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, được cấp Giấy phép xuấtkhẩu, nhập khẩu vàng quy định tại khoản 1 Điều này:

a) Chỉđược phép nhập khẩu vàng miếng, vàng nguyên liệu có hàm lượng từ 99,5% trở lên;

b) Côngbố tiêu chuẩn áp dụng, khối lượng, hàm lượng của vàng miếng, vàng nguyên liệunhập khẩu theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật vềtiêu chuẩn công bố áp dụng, khối lượng, hàm lượng sản phẩm đã nhập khẩu đúngvới tiêu chuẩn, khối lượng, hàm lượng đã công bố;

c) Xâydựng và báo cáo Ngân hàng Nhà nước quy định nội bộ về xuất khẩu, nhập khẩu,biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng;

d) Xâydựng quy định nội bộ về việc bán vàng nguyên liệu đảm bảo công khai, minh bạch;công bố công khai thông tin về việc bán vàng nguyên liệu, quyền và nghĩa vụ củakhách hàng; lưu trữ đầy đủ, chính xác dữ liệu về xuất khẩu, nhập khẩu, giaodịch mua bán vàng nguyên liệu;

đ) Sửdụng vàng nguyên liệu nhập khẩu cho các mục đích:

đ.1)Sản xuất vàng miếng;

đ.2)Sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ;

đ.3)Bán cho doanh nghiệp, ngân hàng thương mại được cấp Giấy phép sản xuất vàngmiếng;

đ.4)Bán cho doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trangsức, mỹ nghệ.

e) Xâydựng hệ thống thông tin để xử lý, lưu trữ dữ liệu về xuất khẩu, nhập khẩu, giaodịch mua bán vàng nguyên liệu có những nội dung cơ bản bao gồm các thông tin vềđối tác, khối lượng, hàm lượng và giá trị giao dịch; thực hiện kết nối cung cấpthông tin cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhànước;

g) Tuânthủ các quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liênquan.””

Như vậy, quy định mới tại Nghị định 232, doanhnghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ phải chịu trách nhiệm công bố tiêuchuẩn, gắn nhãn đúng thực tế và truy xuất nguồn gốc nguyên liệu. Điều này giúpcơ quan quản lý kiểm soát chất lượng sản phẩm, ngăn chặn gian lận tuổi vàng vàbuôn lậu, đồng thời tạo cơ chế pháp lý rõ ràng để bảo vệ người tiêu dùng. Cóthể nói, sự thay đổi này vừa phù hợp với Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa2007 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023, vừa góp phần xây dựng mộtthị trường vàng minh bạch và đáng tin cậy hơn.

3/ Trong trường hợp mở cửa sản xuất, Ngân hàng Nhà nước sẽ còn vaitrò nào trong việc quản lý và điều tiết thị trường vàng, đặc biệt là bảo đảm anninh tiền tệ quốc gia?

Tại Khoản 10 Điều 1 Nghị định232/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ 10/10/2025) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghịđịnh 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng vẫn nêu rõ trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước.Theo đó, mặc dù đã chấm dứt cơ chế độc quyền vàng miếng, Ngân hàng Nhà nước vẫngiữ vai trò trung tâm trong quản lý và điều tiết thị trường. Cơ quan này là nơicấp phép, giám sát sản xuất, đồng thời quy định tiêu chuẩn kỹ thuật, quản lý xuấtnhập khẩu vàng nguyên liệu và can thiệp khi cần để ổn định cung – cầu. Cách tiếpcận này phù hợp với chức năng được giao tại Luật Ngân hàng Nhà nước 2010, bảo đảmthị trường vàng vận hành minh bạch nhưng vẫn gắn chặt với mục tiêu lớn nhất làgiữ vững an ninh tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô.

4/ Dự thảo nghị định cũng bổ sung quy định về thanh toán trong muabán vàng, khuyến khích sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Về mặtpháp lý, quy định này có ý nghĩa thế nào trong việc minh bạch hóa thị trường vàphòng chống rửa tiền?

Theo Nghị định232/2025/NĐ-CP bổ sung khoản 10 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP như sau:

“Nguyên tắc quản lý

...

"Việcthanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của mộtkhách hàng phải được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng vàtài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại,chi nhánh ngân hàng nước ngoài."

Theo đó, việc thanh toán mua, bán vàng có giátrị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiệnthông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanhnghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nướcngoài.

Quy định mới này có ý nghĩa rất lớn về pháplý, bởi vì nó tạo điều kiện minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế giao dịch ngầm,đồng thời hỗ trợ thực thi Luật Phòng, chống rửa tiền 2022 trong việc ngăn chặnviệc lợi dụng vàng để che giấu nguồn tiền bất hợp pháp. Ngoài ra, việc thanhtoán qua ngân hàng cũng giúp cơ quan quản lý dễ dàng giám sát và bảo vệ ngườitiêu dùng trong trường hợp có tranh chấp. Nói cách khác, đây là bước tiến để đưathị trường vàng vào khuôn khổ quản lý tài chính hiện đại, gắn với chuẩn mựcquốc tế.

5/ Xin ông/bà cho biết, để việc sửa đổi quy định về quản lý sản xuấtvàng miếng đi vào thực tế, cần hoàn thiện thêm những quy định pháp lý nào? Vàliệu đã đến lúc cần một đạo luật riêng về quản lý vàng thay vì chỉ dừng ở nghịđịnh hành chính?

Nghị định 232/2025/NĐ-CP, với việcsửa đổi, bổ sung Nghị định 24/2012/NĐ-CP, đã tạo ra khuôn khổ pháp lý toàn diệnhơn cho thị trường vàng nhưng để đi vào thực tế hiệu quả, cần có các văn bản hướngdẫn chi tiết về tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế cấp – thu hồi giấy phép, cũng nhưquy trình giám sát chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Điều này bảo đảm tính khảthi, tránh tình trạng “giấy phép treo” hoặc khoảng trống pháp lý trong thựcthi. Do đó, cần ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết về quy trình cấp phép, kiểmđịnh chất lượng vàng, cơ chế báo cáo định kỳ cũng xây dựng cơ chế phối hợp liênngành giữa NHNN, Bộ Công thương, Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính để giám sát đồngbộ. Đồng thời, hoàn thiện quy định về xử phạt vi phạm hành chính và trách nhiệmhình sự khi có gian lận vàng.

Về lâu dài, theo tôi, việc chỉ dừnglại ở nghị định hành chính có thể chưa đủ. Thị trường vàng gắn trực tiếp với ổnđịnh tài chính – tiền tệ quốc gia, tương tự như ngoại hối hay ngân hàng, vốn đãđược điều chỉnh bằng luật chuyên ngành (Luật Ngân hàng Nhà nước 2010, Luật Cáctổ chức tín dụng 2010, Luật Phòng, chống rửa tiền 2022). Do đó, đã đến lúc cầnnghiên cứu xây dựng một đạo luật riêng về quản lý vàng, để tạo cơ sở pháp lýcao hơn, thống nhất và lâu dài, đồng thời nâng mức chế tài xử lý vi phạm, bảo đảmthị trường vàng phát triển minh bạch, bền vững và gắn với chuẩn mực quốc tế.