Luật sư tư vấn pháp luật hình sự/bào chữa hình sự tại tphcm
Luật sư tư vấn pháp luật hình sự/bào chữa hình sự tại tphcm
Luật sư tư vấn pháp luật hình sự/bào chữa hình sự tại tphcm
Khái niệm đồng phạm trong tố tụng hình sự, thực tiễn và lý luận
Luật sư, Văn phòng luật sư, Công ty luật, Luật sư giỏi ở TpHCM. Tham gia giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại, hợp đồng. Hotline 0972238006
Điều 20 BLHS quy định về đồng phạm: luật sư, văn phòng luật sư, công ty luật, luật sư giỏi, luật sư bào chữa, luật sư hình sự
Khái niệm đồng phạm trong tố tụng hình sự, thực tiễn và lý luận
Luật sư, Văn phòng luật sư, Công ty luật, Luật sư giỏi ở TpHCM. Tham gia giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại, hợp đồng. Hotline 0972238006
Điều 20 BLHS quy định về đồng phạm: luật sư, văn phòng luật sư, công ty luật, luật sư giỏi, luật sư bào chữa, luật sư hình sự
Điều 17 BLHS năm 2015 quy định về đồng phạm: luật sư, văn phòng luật sư, công ty luật, luật sư giỏi, luật sư uy tín
Về cơ bản quy định về đồng phạm của BLHS năm 2015 giữ nguyên so với quy định tại BLHS năm 1999, có một số sửa đổi, bổ sung như sau:
Thứ hai: Khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 được quy định thành khoản 2 Điều 17 của BLHS năm 2015.
Căn cứ để xác định vụ án đồng phạm: dich vu giay phep, dịch vụ giấy phép
VAI TRÒ CỦA ĐỒNG PHẠM GIÚP SỨC
Trong thực tiễn xét xử, rất nhiều trường hợp vụ án có đồng phạm, Toà án đã xác định không đúng vai trò đồng phạm, cụ thể xác định người thực hành thành người giúp sức, dẫn đến đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội không chính xác.
Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 về đồng phạm vẫn được kế thừa từ Bộ luật Hình sự năm 1999, tuy nhiên, việc vận dụng các quy định này trong thực tiễn tố tụng hình sự để giải quyết các vụ án vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là việc phân biệt giữa đồng phạm với vai trò là người giúp sức và đồng phạm với vai trò là người thực hành.
Theo khoa học luật hình sự nước ta thì người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm, nghĩa là tự mình thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan quy định trong cấu thành tội phạm, như trực tiếp chiếm đoạt tài sản; trực tiếp mua bán, tàng trữ chất ma tuý; trực tiếp chôn, lấp, đổ thải chất thải nguy hại ra môi trường…
Người thực hành có thể không phải là người chịu trách nhiệm chính trong vụ án đồng phạm, nhưng người thực hành luôn là người có vai trò quyết định việc thực hiện tội phạm, vì hành vi của người thực hành được coi là có vị trí trung tâm, trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác phụ thuộc vào hành vi của người thực hành; đồng thời, nếu không có người thực hành, thì thủ đoạn phạm tội của người tổ chức có nham hiểm đến đâu, tội phạm cũng chỉ có thể dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, hậu quả tội phạm chưa xảy ra.
Còn người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Giúp sức về vật chất là các trường hợp cung cấp tiền bạc, công cụ, phương tiện, khắc phục những trở ngại… để tạo điều kiện cho người thực hành thực hiện tội phạm dễ dàng, thuận lợi hơn. Giúp sức về tinh thần là các trường hợp chỉ dẫn, cung cấp tình hình, góp ý kiến về kế hoạch, cách thức thực hiện tội phạm, hoặc hứa hẹn che giấu, ban phát cho người phạm tội một lợi ích tinh thần nào đó…
Thực tiễn xét xử của các Toà án hiện nay, hầu như các vụ án hình sự có đồng phạm mà Toà án đưa ra xét xử đều có bị cáo tham gia với vai trò là người thực hành, nhưng rất ít khi gặp trường hợp bị cáo tham gia vụ án với vai trò là người giúp sức. Nguyên nhân tình trạng này theo chúng tôi có thể là so với trước đây thì hiện nay tính manh động, liều lĩnh của tội phạm tăng lên, người thực hiện hành vi giúp sức nếu như trước đây tìm cách giấu mặt thì nay sẵn sàng trực tiếp tham gia thực hiện tội phạm, nên trong các trường hợp này vai trò của họ trong vụ án không còn là vai trò của người giúp sức nữa, mà họ trở thành người thực hành. Mặt khác, việc thu thập chứng cứ buộc tội đối với người giúp sức thường gặp rất nhiều khó khăn, do họ là người không trực tiếp thực hiện tội phạm, ít khi để lại dấu vết, nên chỉ với những lời khai của các đồng phạm khác về hành vi giúp sức của họ, rất khó để các cơ quan pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ; và cũng có thể các đồng phạm khác không khai ra họ để trả ơn đối với hành vi giúp sức của họ.
Tuy nhiên, qua theo dõi các bản án hình sự mà các Toà án xét xử trong những năm gần đây, chúng tôi thấy rằng có tình trạng xác định không chính xác vai trò đồng phạm, theo đó, người thực hành biến thành người giúp sức. Những trường hợp sau là ví dụ:
Vụ án thứ nhất: Ngày 13/4/2016, Lê Viết L và Nguyễn Đình S đã gọi điện rủ Hoàng Ngọc H, Nguyễn Thanh S, Phan Văn Th và Hoàng Ngọc A cùng đi cưa trộm gỗ cao su của Công ty VT để bán lấy tiền tiêu xài; tất cả đã đồng ý. Tại rừng cao su, Hoàng Ngọc A được phân công đứng ở ngã ba, cách nơi cưa trộm gỗ khoảng 500m để cảnh giới, những người còn lại trực tiếp cưa cây hoặc vận chuyển gỗ cao su về một nơi để thuê xe vận chuyển gỗ đi tiêu thụ. Số gỗ sau đó bán được 4.650.000 đồng, trừ chi phí và tiền ăn uống chung, mỗi người được chia 550.000 đồng, riêng Hoàng Ngọc A được chia 200.000 đồng. Tiếp đó ngày 19/4/2016, Nguyễn Đình S và Lê Viết L rủ Phan Văn T, Lưu Bá L và Hoàng Ngọc A đi cưa trộm gỗ cao su của Công ty VT ở địa điểm đã cưa trộm lần trước. Hoàng Ngọc A tiếp tục được phân công nhiệm vụ cảnh giới như lần trước, còn những người còn lại có nhiệm vụ cưa và vận chuyển gỗ tập trung vào một nơi để thuê xe mang đi tiêu thụ. Số gỗ sau đó bán được 5.301.000 đồng, trừ chi phí và tiền ăn uống chung, L và A mỗi người được chia 400.000 đồng, những người còn lại mỗi người được chia 920.000 đồng. Toà án cấp sơ thẩm đã nhận định Hoàng Ngọc A phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, xử phạt A 8 tháng tù, cho hưởng án treo.
Chúng tôi cho rằng, việc xác định Hoàng Ngọc A phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức là không đúng. Bởi lẽ, lén lút chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu đặc trưng trong mặt khách quan của cấu thành tội trộm cắp tài sản. Trong vụ án trộm cắp tài sản, nếu chỉ có một bị cáo thì yếu tố lén lút thể hiện ở chỗ bị cáo vừa chiếm đoạt tài sản, vừa quan sát để có những đối phó thích hợp nhằm tránh sự phát hiện của người khác. Trong vụ án có đồng phạm, lén lút thể hiện ở chỗ hoặc tất cả các đồng phạm cùng quan sát để đối phó, hoặc phân công có người cảnh giới, có người trực tiếp lấy tài sản… Do đó, hành vi canh gác, cảnh giới là một phần của hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, kết hợp với hành vi chiếm đoạt tài sản của các đồng phạm khác chính là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội trộm cắp tài sản. Cho nên, trong vụ án này, Hoàng Ngọc A tham gia vụ án với vai trò người thực hành, chứ không phải là người giúp sức.
Vụ án thứ hai: Nguyễn Đình A và Trần Đức Đ là những đối tượng chuyên đi đòi nợ thuê. Đầu tháng 7/2015, Trần Văn H đã thuê Nguyễn Đình A và Trần Đức Đ đến nhà chị Phạm Thị H để đòi nợ số tiền 172 triệu đồng cho mình. Trần Văn H đi cùng H và Đ. Tại nhà chị H, do chị H chưa có tiền trả, xin khất nợ, nên Trần Văn H đồng ý. Vì có ý định chiếm đoạt tài sản của chị H, nên ngày hôm sau A và Đ hai lần đến nhà chị H, đồng thời gọi điện thoại đe dọa, yêu cầu chị H phải trả 20 triệu đồng trong vòng 10 ngày, nếu không chúng sẽ bắn chết. Vì sợ những lời đe dọa trên, nên ngày 18/7/2015, chị H đã giao cho A và Đ số tiền 20 triệu đồng. Số tiền này A và Đ không giao cho H mà tiêu xài hết.
Khi xét xử vụ án, Toà án đã nhận định Nguyễn Đình A là người chịu trách nhiệm chính trong vụ án, Trần Đức Đ là đối tượng tham gia với vai trò giúp sức, cùng Nguyễn Đình A đã có hành vi đe dọa chị H. Rõ ràng nhận định của Toà án như vậy là không đúng, bởi lẽ, trong vụ án này, nếu thấy rằng Đ tham gia ít tích cực hơn so với A, như A thể hiện thái độ hung hãn hơn, là người trực tiếp lấy tiền từ chị H…, thì Toà chỉ có thể nhận định vai trò của Đ trong vụ án có phần hạn chế hơn so với A để áp dụng một mức hình phạt nhẹ hơn, chứ không thể cho rằng Đ tham gia vụ án với vai trò giúp sức. Trong vụ án này, Đ là người cùng với A trực tiếp đe dọa, chiếm đoạt tài sản của chị H nên phải xác định Đ tham gia với vai trò người thực hành, chứ không phải là người giúp sức.
Như vậy có thể thấy trong thực tiễn xét xử, rất nhiều trường hợp vụ án có đồng phạm, Toà án đã xác định sai vai trò đồng phạm, cụ thể xác định người thực hành thành người giúp sức, dẫn đến đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội không chính xác.
Khoản 2 Điều 54 BLHS năm 2015 quy định: Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm, nhưng có vai trò không đáng kể.
Quy định này cho thấy quan điểm của nhà làm luật là nói chung trong vụ án đồng phạm, đồng phạm giúp sức thường có vai trò hạn chế nhất, do đó, họ có thể được xét xử với mức án thấp hơn nhiều so với các loại người đồng phạm khác. Tuy nhiên, khái niệm đồng phạm giúp sức phải được hiểu theo đúng tinh thần khoa học luật hình sự, chứ không phải theo nhận thức cảm tính như các vụ án đã nêu trên.
Thế nào là “hành vi vượt quá của người thực hành trong vụ án có đồng phạm”?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 thì “đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.
Ví dụ: A cắt khóa vào nhà kho lấy trộm một chiếc tivi. B nhìn thấy, đợi A đem tivi ra ngoài, sau đó lẻn vào nhà kho lấy trộm một chiếc quạt bàn và một số phụ tùng xe máy, khi ra khỏi kho được 200m thì cả A và B đều bị bảo vệ cơ quan phát hiện bắt giữ. Tuy cả A và B đều thực hiện tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không cùng thực hiện, nên không coi trường hợp tội phạm của A và B là đồng phạm.
Chế định đồng phạm quy định trong BLHS có hai loại mà theo khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp (phạm tội có tổ chức): Đồng phạm giản đơn là trường hợp tất cả những người cùng thực hiện một tội phạm đều là người thực hành. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 2 Điều 17 BLHS). Trong vụ án có đồng phạm, tùy thuộc vào quy mô và tính chất mà có thể có những người giữ những vai trò khác nhau như: Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực tội phạm. Trực tiếp thực hiện tội phạm là trực tiếp có hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành như: Trực tiếp cầm dao chém nạn nhân, cầm súng bắn nạn nhân, trực tiếp chiếm đoạt tài sản, trực tiếp nhận hối lộ… Người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiện tội phạm. Dù là đồng phạm giản đơn hay phạm tội có tổ chức thì bao giờ cũng có người thực hành. Nếu không có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích phạm tội không được thực hiện; hậu quả vật chất của tội phạm chưa xảy ra và trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác sẽ được xem xét theo quy định tại Điều 14 BLHS (chỉ chuẩn bị phạm tội một trong những tội mà BLHS quy định mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác rõ ràng phụ thuộc vào hành vi của người thực hành.
Thực tiễn xét xử cho thấy, không phải bao giờ người thực hành cũng thực hiện đúng những hành vi do các đồng phạm khác đặt ra, có trường hợp người thực hành tự ý không thực hiện tội phạm hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm, nhưng thực tế cũng không ít trường hợp người thực hành tự ý thực hiện những hành vi vượt quá yêu cầu của các đồng phạm khác đặt ra. Khoa học luật hình sự gọi là hành vi vượt quá của người thực hành trong vụ án có đồng phạm.
Luật hình sự của nhiều nước cũng ghi rõ chế định “vượt quá” của người thực hành trong BLHS hoặc trong các văn bản luật hình sự. Ở nước ta, chế định này trước đây chưa được ghi trong BLHS, nhưng về lý luận cũng như thực tiễn xét xử đều được thừa nhận, khi cần phải xem xét đến trách nhiệm hình sự của người thực hành cũng như những đồng phạm khác trong một vụ án có đồng phạm.
Về lý luận cũng như thực tiễn xét xử đã khẳng định, hành vi vượt quá của người thực hành trong vụ án có đồng phạm và hậu quả do hành vi thái quá đó gây ra chỉ người thực hành phải chịu trách nhiệm hình sự, còn những người đồng phạm khác không phải chịu về việc “vượt quá” đó.
Như vậy, khi nghiên cứu tình trạng loại trừ trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác đối với hành vi thái quá của người thực hành, chúng ta không thể không nghiên cứu nội dung của sự “vượt quá” mà người thực hành đã gây ra, từ đó xác định trách nhiệm hình sự của người thực hành về hành vi vượt quá đó mà loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác.
Hành vi vượt quá của người thực hành là việc người thực hành tự ý thực hiện hành vi phạm tội mà những người đồng phạm khác không biết và không mong muốn. Hay nói cách khác, hành vi vượt quá của người thực hành mà những người đồng phạm khác không có ý định thực hiện, cũng không mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra. Ví dụ: Trần Quang A, Nguyễn Văn C, Bùi Quốc T vì thua bạc nên T bàn bạc với A và C về nhà mình để buộc mẹ của T phải đưa chìa khóa tủ mở lấy tiền tiếp tục đánh bạc, A và C đồng ý. Vì T là con của bà M, nên T giao cho A và C trực tiếp thực hiện. Trước khi đi T nói với A và C chỉ dọa bà M để bà đưa chìa khóa tủ chứ không được làm bất cứ điều gì gây đau đớn cho bà. T còn nói, nếu má tao có sao chúng mày đừng có trách. Sau khi đã bàn bạc thống nhất, vào lúc nửa đêm, A và C lẻn vào nhà bà M, lợi dụng lúc bà M đang ngủ, A dùng tay chẹn vào cổ bà M, còn C dọa: “Chìa khóa tủ để ở đâu không đưa đây chúng tao giết !”. Bị tấn công bất ngờ, bà M không kịp trở tay buộc phải đưa chìa khóa cho C. Trong lúc C đang mở tủ để lục soát tìm tiền, thì A dùng một quả chanh nhét vào miệng bà M và lấy khăn bịt miệng bà M lại, nhưng vì bà M giãy giụa làm quả chanh trong miệng bật ra, đồng thời bà M kêu cứu. Sợ bị lộ, A vật bà M xuống ngồi lên bụng bà, rồi dùng tay bóp cổ bà cho đến khi bà M không còn giãy giụa nữa A mới bỏ tay ra. C thấy A hành động như vậy hỏi, sao mày làm như vậy, thì A trả lời bà ấy chỉ xỉu thôi không chết đâu mà sợ, cùng lúc này C đã lục tủ lấy được bọc tiền của bà M rồi cả hai bỏ chạy ra điểm hẹn với T. Thấy A và C đến T hỏi ngay má tao có sao không, cả A và C đều trả lời không việc gì hết. T về nhà xem tình hình, còn A và C tiếp tục đi đánh bạc. Khi T về nhà thấy má mình bất động đã đưa đi bệnh viện cấp cứu, nhưng bà M đã chết. Trong trường hợp này, ngay từ khi bàn bạc phạm tội, chúng thống nhất chỉ làm cho bà M sợ để bà đưa chìa khóa tủ, nhưng trong khi thực hiện tội phạm, A đã có hành vi vượt quá làm cho bà M bị chết, vì vậy, chỉ có A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người, còn C, T chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cướp tài sản”.
Thực tiễn xét xử cho thấy hành vi vượt quá của người thực hành không chỉ đơn giản mà nó được biểu hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau như: Lúc đầu chỉ bàn cướp nhưng khi thực hiện lại giết người; lúc đầu chỉ bàn đánh cho một trận nhưng khi thực hiện lại lấy tài sản của người bị đánh; lúc đầu bàn bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng khi thực hiện việc bắt cóc lại hiếp dâm; lúc đầu chỉ bàn trộm trâu nhưng khi thực hiện lại trộm cả lợn và gà… Chính vì tội phạm xảy ra muôn hình muôn vẻ nên khoa học luật hình sự chia hành vi vượt quá ra làm hai loại chính: Vượt quá về chất lượng của hành vi và vượt quá về số lượng của hành vi.
Vượt quá về chất lượng của hành vi là trường hợp người thực hành trong vụ án có đồng phạm thực hiện hành vi vượt quá đó không cùng tính chất với tội phạm mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện, nếu hành vi vượt quá cấu thành tội phạm thì tội phạm đó không cùng tính chất với tội phạm mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện. Ví dụ: Trần Văn T bàn với Đặng Văn H và Phạm Quốc V chặn đường để cướp của, nhưng trước khi đi, H bị kẹt nên chỉ có T và V thực hiện. Khi phát hiện thấy người đi xe máy chạy qua H và T ra chặn lại để cướp tài sản thì phát hiện người đi xe máy là một phụ nữ, nên cả hai tên nảy ý định hiếp dâm và chúng đã thực hiện hành vi hiếp dâm, đồng thời cướp đi của nạn nhân sợi dây chuyền. Hành động xong, V và T về kể cho H nghe đã cướp được sợi dây chuyền vàng, hôm sau H mang dây chuyền đi bán thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Trong quá trình điều tra, H mới biết ngoài hành vi cướp tài sản thì V và T còn hiếp dâm người bị hại. Hành vi thái quá của V và T là hành vi vượt quá về chất lượng vì tội “Hiếp dâm” không cùng tính chất với tội “Cướp tài sản”. Việc xác định vượt quá về chất lượng không khó khăn nên việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác cũng dễ dàng hơn so với trường hợp vượt quá về số lượng hành vi.
Thái quá về số lượng hành vi là trường hợp người thực hành trong vụ án có đồng phạm thực hiện hành vi vượt quá mà hành vi đó cùng tính chất với hành vi phạm tội mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện. Trường hợp vượt quá này rất khó xác định, cho nên không ít trường hợp rõ ràng là người thực hành trong vụ án có đồng phạm có hành vi vượt quá nhưng những đồng phạm khác vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá đó. Do đó, để phân biệt hành vi đã vượt quá hay chưa cần phải nghiên cứu nó ở những mức độ khác nhau.
Trường hợp thứ nhất: Hành vi vượt quá của người thực hành trong vụ án có đồng phạm đã cấu thành một tội phạm khác và tội phạm này cùng tính chất với tội phạm mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện. Ví dụ: Do có thù tức với Đặng Văn H nên Trần Tuấn A, Phạm Quốc B, Nguyễn Hồng C bàn bạc tìm đánh cho H một trận. Khi gặp H, cả ba tên lao vào dùng chân tay đấm đá cho tới khi H ngã gục. Thấy vậy, B và C nói thôi, thế là đủ đừng đánh không thì nó chết mất, rồi B và C bỏ đi. Nhưng A vẫn ở lại tiếp tục dùng gót chân thúc mạnh vào hai mạng sườn và dậm chân lên ngực H cho tới khi H bất tỉnh mới thôi. Hậu quả là H bị chết. Kết quả giám định kết luận H bị chết là do bị vỡ lá lách, chảy máu trong, phổi xung huyết mất máu cấp. Với hành vi phạm tội như trên Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều kết án cả A, B và C về tội “Giết người”. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định chỉ kết án Trần Tuấn A về tội “Giết người”, còn Phạm Quốc B và Nguyễn Hồng C không bị kết án về tội “Giết người” mà chỉ bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích”, vì xác định hành vi của Trần Tuấn A là hành vi vượt quá nên B và C không phải chịu về hậu quả do hành vi thái quá của A gây ra. Trong trường hợp này, hành vi vượt quá của người thực hành đã cấu thành tội phạm khác (tội “Giết người”), nhưng hành vi này cùng tính chất với hành vi của những người đồng phạm khác (cùng đấm đá, cùng xâm phạm đến sức khỏe của con người).
Trường hợp thứ hai: Hành vi vượt quá của người thực hành chưa cấu thành tội phạm khác mà nó vẫn là tội phạm mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện. Ví dụ: Lê Khắc T là thủ kho, Trần Thị M là kế toán và Vũ Văn B là bảo vệ Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ một thành viên, bàn với nhau về việc vào lấy trộm 100 kg mì chính (bột ngọt) ở kho do T quản lý bán lấy tiền chia nhau. T và B được phân công trực tiếp vào kho lấy mì chính còn M có nhiệm vụ sửa chữa sổ sách để hợp thức hóa việc thiếu 100 kg mì chính. Nhưng trước khi vào kho lấy mì chính T bàn với B lấy thêm 50 kg để chia nhau mà không cho M biết. Trường hợp này, rõ ràng B và T có hành vi vượt quá, nhưng hành vi vượt quá này không cấu thành một tội phạm khác riêng biệt, cả M, T và B đều phạm tội “Tham ô tài sản”, nhưng tính chất và mức độ phạm tội của B và T có khác M. Trách nhiệm hình sự của T và B phải nặng hơn M.
Sự phân biệt hai loại hành vi vượt quá như trên chỉ có ý nghĩa trong công tác nghiên cứu khoa học, còn thực tiễn xét xử dù là vượt quá về chất lượng hay về số lượng của hành vi thì những người đồng phạm khác đều không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
Trong thực tiễn, khi xác định những người đồng phạm khác có phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người thực hành hay không cũng phức tạp. Bởi vì, trong quá trình thực hiện tội phạm, người thực hành có nhiều hành vi nhằm đạt được mục đích mà những người đồng phạm khác cũng mong muốn, trong đó có hành vi được những người đồng phạm khác biết trước và đồng tình, nhưng cũng có những hành vi không được những người đồng phạm khác biết trước, không mong muốn hậu quả của những hành vi đó xảy ra, nhưng thái độ bỏ mặc, muốn ra sao thì ra. Vậy vấn đề trách nhiệm hình sự được xác định như thế nào khi người thực hành có những hành vi gây ra hậu quả mà mình không biết, không mong muốn ? Ví dụ: A, B và C chỉ bàn bạc với nhau về việc đến uy hiếp chủ nhà để cướp tài sản. Khi đi chúng có mang theo dao găm, dây trói, giẻ và trái chanh để bịt miệng. Tới nơi, A và B trói chủ nhà, nhét trái chanh vào miệng, lấy giẻ buộc lại và giao cho C canh giữ. Thấy giẻ bịt miệng chủ nhà tuột ra, C sợ chủ nhà kêu cứu, nên đã bóp cổ làm chủ nhà bị chết. Có ý kiến cho rằng hành vi bóp cổ chủ nhà của C là hành vi vượt quá nên C phạm tội “Giết người” và “Cướp tài sản”, còn C và B không chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do hành vi vượt quá của C gây ra nên chỉ phạm tội “Cướp tài sản”. Tuy nhiên, trong trường hợp cụ thể này, tuy A, B và C không bàn bạc với nhau từ trước về việc giết người, nhưng A và B bỏ mặc cho C hành động, không quan tâm đến hậu quả do hành vi của C gây ra, miễn là cướp được tài sản; việc C bóp cổ chủ nhà cũng là nhằm cho đồng bọn thực hiện trót lọt việc lấy tài sản mà cả A và B đều mong muốn. Do đó, cái chết của chủ nhà do C trực tiếp gây ra nhưng phải buộc cả A và B cùng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, nếu những người đồng phạm để cho người thực hành hoàn toàn tự do hành động nhằm đạt được mục đích của tội phạm mà mình mong muốn, thì mọi hành vi của người thực hành không được coi là hành vi vượt quá và những người đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi và hậu quả của người thực hành gây ra.
Việc để cho người thực hành tự do hành động, tức là người thực hành không bị hạn chế hay ràng buộc nào của những người đồng phạm khác. Nếu những người đồng phạm khác lại có hành vi ngăn cản hay hành động tích cực để ngăn chặn hậu quả, thì những người này cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Trương Quang T, Vũ Minh H và Hoàng Công V bàn bạc đến nhà cậu ruột của V để cướp. V không trực tiếp thực hiện mà giao cho T và H chỉ được trói chủ nhà để uy hiếp lấy tài sản chứ không được gây án mạng. Vì sợ bọn H và T làm ẩu nên trước khi đi V đã kiểm tra và giữ lại hai dao găm mà bọn H và T định mang theo. Trên đường đến nhà cậu của V để cướp, H và T tự ý về nhà H lấy một khẩu súng ngắn mà H đã chuẩn bị từ trước, vì chúng cho rằng không có vũ khí thì không thể làm gì được. Tới nơi, H và T dùng súng uy hiếp bắt trói chủ nhà, rồi lục soát tài sản. Trong khi bọn chúng đang lục soát thì chủ nhà tự cởi được trói, kêu cứu, H đã dùng súng bắn chết chủ nhà. Trong trường hợp này hành vi của H cũng là hành vi nhằm thực hiện tội cướp mà cả V đã bàn bạc từ trước, nhưng V đã có những hành động tích cực nhằm hạn chế, ngăn chặn hậu quả nên V không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” do H và T gây nên.
Thực tiễn xét xử cũng có những trường hợp nếu chỉ căn cứ đơn thuần vào hành động hoặc lời nói của những người đồng phạm khác (chủ mưu, tổ chức, xúi giục, giúp sức) thì thấy họ có ý thức bỏ mặc cho hậu quả do người thực hành thực hiện tội phạm, nên đã buộc những người này phải chịu trách nhiệm về hậu quả mà người thực hành gây ra. Nhưng nếu căn cứ vào nội dung của hành động và lời nói của họ thì họ không ý thức bỏ mặc cho hậu quả do người thực hành gây ra vì nếu như vậy thì họ không thực hiện được mục đích của mình. Ví dụ: Nguyễn Tiến N là Đội phó đội điều tra Công an huyện Y và Tống Viết Q là Điều tra viên được phân công điều tra vụ án mà Hà Văn T là người tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Trong quá trình điều tra, mặc dù có căn cứ để xác định rằng T đã tiêu thụ 17 cái máy bơm bị trộm cắp chứ không phải chỉ có 4 cái như T thừa nhận, nên phải ra lệnh bắt giam T để tiếp tục làm rõ hành vi phạm tội của T. T được giam chung với một số phạm nhân trong đó có Bùi Xuân P được các phạm nhân khác mệnh danh là “đầu gấu” trong buồng giam. Q đã nhiều lần lấy lời khai của T nhưng T một mực không nhận, N và Q nói với P phải đánh cho T một trận thì nó mới khai đúng sự thật. Để lấy lòng cán bộ điều tra và cũng vì sợ không đánh T thì sẽ không được yên nên P tổ chức cho các phạm nhân cùng buồng đánh đập T rất dã man làm cho T bị ngất xỉu phải đưa đi cấp cứu thì bị chết.
Khi xem xét trách nhiệm của Nguyễn Tiến N và Tống Viết Q, có ý kiến cho rằng, mặc dù Q và N không có ý định tước đoạt tính mạng của T từ trước, nhưng đã có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, không có biện pháp ngăn chặn. Việc P cùng các phạm nhân khác đánh chết T là do câu nói của Q và N “đánh cho nó một trận để nó khai ra sự thật”, do đó, N và Q phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với vai trò xúi giục. Tuy nhiên, căn cứ vào lời nói của N và Q thì thấy, nếu N và Q để mặc cho bọn P đánh chết anh T thì về thực tế không đạt được mục đích là làm cho anh T khai ra sự thật, còn về pháp lý nói đánh cho một trận nó sẽ khai ra chứ không phải đánh một trận cho nó biết thế nào là tù tội, hoặc mày cứ đánh cho một trận muốn ra sao thì ra. Vì thế, trong trường hợp này việc P đánh T bị chết là ngoài mục đích của N và Q nên hành vi của P và đồng phạm là hành vi vượt quá của người thực hành. Do đó, N và Q không phải chịu trách nhiệm hình sự về cái chết của anh T. Tuy nhiên, hành vi của N và Q nói đánh cho nó một trận cũng tức là mong muốn cho T bị thương tích hoặc bị tổn hại đến sức khỏe, nên hành vi của N và Q phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích”.
Vấn đề mặt chủ quan của đồng phạm
Từ trước đến nay, lí luận cũng như thực tiễn ở nước ta đã thừa nhận tội phạm có đồng phạm chúng ta chưa dành cho nó sự quan tâm thoả đáng để giải quyết triệt để thể được thực hiện dưới một trong hai hình thức là phạm tội đơn lẻ và đồng phạm. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức phạm tội đơn lẻ thì tất cả mọi vấn đề liên quan đến tội phạm chỉ cần xác định thông qua hành vi của một người, ngược lại trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì những vấn đề liên quan lại phải được xem xét như là kết quả tổng hợp từ hành vi của nhiều người. Chính sự khác biệt về số lượng người thực hiện tội phạm như vậy đã tạo ra cho đồng phạm tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với hình thức phạm tội đơn lẻ. Do đó, việc xác định trường hợp phạm tội cụ thể là phạm tội đơn lẻ hay đồng phạm gắn bó chặt chẽ với trách nhiệm hình sự của những người tham gia thực hiện hành vi. Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng cùng với sự khác biệt về số lượng người tham gia thì việc xác định các dấu hiệu pháp lí liên quan đến tội phạm cũng phức tạp hơn nhiều.
Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt của việc xác định dấu hiệu pháp lí của đồng phạm, vấn đề này từ lâu đã được quan tâm nghiên cứu trong sách báo pháp lí ở nước ta. Mặc dù vậy, có thể nhận xét rằng nếu như đối với vấn đề mặt khách quan của đồng phạm chúng ta đã giải đáp được những vấn đề vướng mắc thì đối với mặt chủ quan của đồng phạm chúng ta chưa dành cho nó sự quan tâm thoả đáng để giải quyết triệt để mọi vấn đ??
