Chúng tôi là hãng luật uy tín được nhiều báo chí, đài truyền hình trên cả nước đặt lịch phỏng vấn những sự kiện quan trọng của đất nước. Chúng tôi luôn đặt chữ tâm của nghề luật sư lên hàng đầu nên đã được nhiều tổ chức, cá nhân tin tưởng chúng tôi.

         Điều kiện để kiện đòi lại tài sản. Để khởi kiện kiện đòi lại tài sản cần đáp ứng những điều kiện nào?

Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp trả lại tài sản cho mình. Quyền đòi lại tài sản được quy định rất cụ thể tại Điều 256 Bộ luật dân sự: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó…” trừ trường hợp tài sản được chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai và đã được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu hoặc các trường hợp khác được quy định tại Điều 257, 258. Không phải trong trường hợp nào chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp cũng có quyền kiện vật quyền mà chỉ có thể có quyền kiện vật quyền khi đáp ứng đủ ba điều kiện:

- Người khởi kiện (nguyên đơn) phải chứng minh quyền kiện đòi tài sản

Để chứng minh quyền kiện đòi tài sản, trước hết, người khởi kiện phải chứng minh mình là chủ thể có quyền kiện đòi lại tài sản. Theo điều 256, chủ thể có quyền kiện đòi ở đây bao gồm: Chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp.

Chủ sở hữu là những chủ thể (cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác) có đầy đủ ba quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định tại Điều 164. Chủ sở hữu là người được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Chủ sở hữu là người có tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình và để xác định một tài sản nào đó có phải là tài sản thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định hay không phải dựa trên căn cứ xác lập quyền sở hữu do pháp luật quy định (theo Điều 170).

Người chiếm hữu hợp pháp là một khái niệm chưa được giải thích cụ thể. Xung quanh khái niệm này có hai quan điểm khác nhau:

Người chiếm hữu hợp pháp là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật với 6 trường hợp chiếm hữu tài sản cụ thể được quy định tại Điều 183.

Người chiếm hữu hợp pháp là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật và người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình trong một số trường hợp.

Tuy nhiên, quan điểm 1 là hợp lí hơn bởi trong trường hợp như ví dụ trên, ở đây C có quyền kiện đòi tài sản nhưng không phải với tư cách là người thứ ba ngay tình mà trong mối quan hệ kiện đòi với D, C là chủ sở hữu tài sản. Trong mối quan hệ với A, C là người thứ 3 ngay tình, tuy nhiên, ở đây A không có quyền kiện đòi tài sản do đó quyền sở hữu chiếc xe đạp được xác lập cho C, C chính là chủ sở hữu tài sản kể từ khi có được tài sản thông qua giao dịch mua bán.

Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là, nếu người chiếm hữu hợp pháp chính là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật thì tại sao nhà làm luật không sử dụng luôn thuật ngữ này trong khi hầu hết các điều luật đều sử dụng thuật ngữ này thì đến đây, khi quy định về các phương thức kiện dân sự lại xuất hiện khái niệm chiếm hữu hợp pháp? Việc quy định các thuật ngữ không đồng nhất sẽ dẫn đến cách hiểu không nhất quán. Mặt khác, Điều 256 nêu rõ: “chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp có quyền đòi lại tài sản…”. Thế nhưng, khoản 1 Điều 183 đã quy định rất cụ thể, chủ sở hữu tài sản là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật. Do đó, việc quy định như vậy có phải là trùng lặp? Hay là chủ sở hữu tại Điều 256 và Điều 183 là khác nhau?

Trên thực tế, việc chứng minh quyền sở hữu là rất khó khăn đặc biệt là đối với trường hợp tài sản là động sản không đăng kí quyền sở hữu: xe đạp, laptop, điện thoại di động… khi mà tài sản không chỉ chuyển đổi người chiếm giữ một, hai lần mà qua rất nhiều giao dịch dân sự khác nhau. Do đó, về mặt thực tiễn, đối với tài sản là bất động sản, để chứng minh quyền kiện đòi, nguyên đơn thường phải đưa ra được đặc điểm riêng, đặc trưng để nhận biết tài sản đó. Đối với tài sản là động sản phải đăng kí quyền sở hữu và bất động sản thường dễ dàng hơn bởi trong trường hợp này có giấy tờ chứng minh.

Mặt khác, trong một số trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải chứng minh được vật đang đòi đã rời khỏi nguyên đơn ngoài ý chí của họ, ( đánh rơi, bỏ quên, bị mất cắp…). Trong trường hợp người chiếm hữu tài sản nhận được tài sản thông qua giao dịch không đền bù thì không phải chứng mình điều kiện này.

Sau khi chứng minh được quyền kiện đòi, về nguyên tắc, người chiếm hữu bất hợp pháp (bị đơn) phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp (nguyên đơn). Khi lấy lại tài sản, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không phải bồi thường một khoản tiền nào, trừ trường hợp người chiếm hữu bất hợp pháp ngay tình phải bỏ ra chi phí hợp lí để sửa chữa tài sản, làm tăng giá trị của tài sản. Như vậy, trường hợp bồi thường chỉ đặt ra đối với người chiếm hữu bất hợp pháp là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình.

- Người bị kiện (bị đơn) là người chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của người khởi kiện và là người đang trực tiếp nắm giữ tài sản đó

Người bị kiện phải là người đang nắm giữ tài sản, là người chiếm hữu bất hợp pháp tài sản đó. Người bị kiện có thể là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình hoặc người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình được xác định cụ thể tại Điều 256, Điều 257 và Điều 258. Việc xác định tính chất chiếm hữu tài sản của người bị kiện là ngay tình hay không ngay tình có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ án bởi điều này liên quan trực tiếp đến các trường hợp chủ sở hữu được đòi lại tài sản theo các điều kiện luật định, quyền của người bị kiện trong việc yêu cầu người đã trực tiếp chuyển giao tài sản cho mình phải bồi thường thiệt hại cũng như nghĩa vụ của người chiếm hữu trong việc hoàn trả hoa lợi, lợi tức phát sinh trong thời gian chiếm hữu tài sản.

- Điều kiện đối với đối tượng kiện đòi: Tài sản còn            

Đối tượng kiện đòi được xác định rất rõ ràng đó là tài sản. Để có thể lựa chọn phương thức kiện đòi tài sản, ngoài hai yêu cầu về mặt chủ thể tham gia nêu trên còn phải đáp ứng điều kiện đó là tài sản còn và đang nằm trong sự chiếm giữ của bị đơn.

Tài sản là các vật thể hoặc phi vật thể đáp ứng được nhu cầu vật chất, tinh thần của con người, có thể trị giá được và chuyển giao theo bản chất và chỉ có thể thuộc quyền sở hữu của một hoặc một nhóm chủ thể nào đó khi còn tồn tại. Theo quy định tại Điều 163Bộ luật dân sự:  “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.

Tuy nhiên do đặc thù của phương thức kiện đòi lại tài sản cho nên không phải tất cả những tài sản được liệt kê tại Điều 163 đều là đối tượng của kiện đòi lại tài sản .

Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, bao gồm động vật, thực vật, vật với ý nghĩa vật lí ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí). Vật được coi là tài sản phải là vật hữu tính, cảm nhận bằng năm giác quan của con người, chiếm giữ một phần trong không gian. Vật được coi là tài sản khi đáp ứng nhu cầu nào đó về vật chất, tinh thần của con người. Tuy nhiên không phải bộ phận nào của thế giới vật chất cũng coi là vật. Để áp dụng phương thức kiện đòi lại tài sản thì tài sản phải là vật có thực và tồn tại trên thực tế. Nếu vật hiện không còn tồn tại do đã bị mất (mà không xác định được ai là người đang thực tế chiếm hữu) hoặc bị tiêu hủy thì cũng không thể áp dụng biện pháp kiện đòi lại tài sản được. Trường hợp như vậy thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chỉ có thể áp dụng biện pháp kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, vật là đối tượng của kiện đòi lại tài sản hiện còn tồn tại có thể vẫn còn nguyên ở trạng thái ban đầu hoặc về cơ bản vẫn còn nhưng bị giảm sút giá trị hoặc đã được làm tăng giá trị.

Tiền được coi là một loại tài sản riêng biệt. Khi tiền bị chiếm hữu không có căn cứ pháp luật thì về mặt bản chất chủ sở hữu không thể kiện đòi lại tài sản thông thường được mà thực chất là kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Giả sử, trường hợp một người trộm cắp tiền của người khác rồi dùng tiền đó để mua tài sản thì người bị mất tiền không thể kiện đòi lại tiền của mình từ người bán tài sản được, nếu người bán tài sản đó là người không ngay tình thì chủ sở hữu có thể kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Chủ sở hữu có thể kiện đòi lại tiền trong trường hợp biết rõ số seri của những tờ tiền đó mà hiện đang bị người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Đối với trường hợp tiền đã được bao gói niêm phong mà bị người khác chiếm hữu trái pháp luật và hiện số tiền đó vẫn còn nguyên bao thì việc kiện đòi lại tài sản trong trường hợp này thực chất là kiện đòi lại tài sản là vật (một gói tiền) chứ không phải là kiện đòi lại tiền. Do vậy, tùy từng trường hợp mà tiền có thể là đối tượng hoặc không phải là đối tượng của kiện đòi lại tài sản.

Giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản giao lưu trong dân sự chính là giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản vô danh, giá trị của giấy tờ có giá chính là giá trị của quyền tài sản mà nó minh chứng. Giấy tờ có giá là loại tài sản hữu hình, được xếp vào loại tài sản là động sản. Giấy tờ có giá có thể là đối tượng của quyền đòi lại tài sản. Đối với “ quyền tài sản” được quy định tại Điều 181 Bộ luật dân sự, đó là những quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, đó có thể là quyền gắn liền với một tài sản hoặc quyền mà khi thực hiện nó, chủ sở hữu sẽ có được tài sản.

Quyền tài sản là loại tài sản vô hình, do đó không thể thực hiện được quyền chiếm hữu với loại tài sản này. Căn cứ vào đặc điểm của phương thức kiện đòi lại tài sản thì quyền tài sản không phải là đối tượng của kiện đòi lại tài sản. Khi quyền tài sản bị xâm phạm thì tùy thuộc vào tính chất, mức độ xâm phạm mà chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể yêu cầu phương thức kiện chấm dứt hành vi xâm phạm hoặc kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Theo quy định tại Điều 59 Bộ luật TTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 và Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất "Những quy định chung" của BLTTDS thì các tranh chấp dân sự sau đây không áp dụng thời hiệu khởi kiện: “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện”.

- Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là tranh chấp ai có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó;

Tranh chấp ai có quyền sở hữu nhà ở; nếu có khởi kiện thì Tòa án thụ lý vụ án; việc chấp nhận hay không phải căn cứ vào các quy định của pháp luật.

- Tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu là tranh chấp về tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình nhưng do người khác quản lý, chiếm hữu tài sản đó;

- Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai là tranh chấp ai có quyền sử dụng đất đó.

 Đối với tranh chấp dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự (hợp đồng vay tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, thuê tài sản, thuê khoán tài sản, hợp đồng gia công, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất), thì giải quyết như sau:

- Đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự thì áp dụng thời hiệu quy định trong văn bản quy phạm pháp luật tương ứng đối với loại giao dịch đó.

Tranh chấp về hợp đồng thuê nhà thì thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng cho thuê tài sản được xác định theo quy định tại Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện là 02 năm.

- Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản, đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý, chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Căn cứ vào Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, cụ thể là:
"Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu tòa giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau:
a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là 2 năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm".
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011):
"3. Đối với tranh chấp dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự (hợp đồng vay tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, thuê tài sản, thuê khoán tài sản, hợp đồng gia công, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất), thì giải quyết như sau:
b) Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản, đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý, chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện"
Trân trọng cảm ơn Qúy khách đã tin tưởng chúng tôi trong thời gian qua.
LS TRẦN MINH HÙNG