Notice: fwrite(): write of 182 bytes failed with errno=122 Disk quota exceeded in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 53Warning: fread(): Length parameter must be greater than 0 in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 32Notice: fwrite(): write of 197 bytes failed with errno=122 Disk quota exceeded in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 53 hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” - Luật sư tư vấn bào chữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản | luatsugiadinh.net.vn

Án lệ số …./2018/AL vềhành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

ĐượcHội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngàythángnămvà được công bố theo Quyếtđịnh số/QĐ-CA ngàythángnăm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyếtđịnh giám đốc thẩm số 08/2015/HS-GĐT ngày 23-4-2015 của Tòa Hình sự Tòa án nhândân tối cao về vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo: Dương HuỳnhNhựt M sinh năm 1990; Trú tại: Số 55 lô B, khu phố 3, đường T, phường A, quậnB, thành phố Hồ Chí Minh; Không có tiền án, tiền sự.

(Ngoàira, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Ngọc C, Phạm Thanh V, Trần Thành D vàThượng Hữu T đều bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”);

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn3 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung củaán lệ:

-Tình huống án lệ:

Bịcáo dùng giấy tờ giả, xe máy mang biển kiểm soát giả đi cầm cố nhằm mục đíchchiếm đoạt tài sản, việc chưa chiếm đoạt được tài sản và không thực hiện được tộiphạm đến cùng do nguyên nhân ngoài ý muốn của bị cáo.

-Giải pháp pháp lý:

Trườnghợp này, Tòa án phải xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừađảo chiếm đoạt tài sản” nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.

Quyđịnh của pháp luật liên quan đến án lệ:

-Điểm e khoản 2 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với điểm c khoản2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015);

Từ khoá của án lệ:

“Lừađảo chiếm đoạt tài sản”; “Phạm tội chưa đạt”; “Thủ đoạn gian dối”; “Các tội xâmphạm sở hữu”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Vàolúc 12 giờ 20 phút ngày 26/9/2011, tại tiệm cầm đồ Q, số 306/1 ấp 1, xã S,thành phố B, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre bắt quả tangThượng Hữu T có hành vi gian dối khi sử dụng giấy Chứng minh nhân dân và giấyĐăng ký mô tô, xe máy tên Nguyễn Minh H để cầm xe mô tô loại @150 biển số71B1-026.72 cho chủ tiệm cầm đồ là Nguyễn Thị T1 với giá 20.000.000đ. Vật chứngthu giữ gồm:

-01 xe mô tô loại @150 gắn biển số 71B1- 026.72, số máy: HI-KF03E- 0021248-HIKGG, số khung: ZDCKF03A0YF-021205.

-01 giấy Chứng minh nhân dân số 320559318 tên Nguyễn Minh H (sinh ngày 07/8/1984,NĐKHKTT: số 143 C, phường M, thành phố B, tỉnh Bến Tre, cấp ngày 18/7/2010 tạiCông an Bến Tre).

-01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 005263 tên Nguyễn Minh H (sinh ngày 07/8/1984,NĐKHKTT: số 143 C, phường M, thành phố B, tỉnh Bến Tre); BSĐK 71B1- 026.72, sốmáy: HI- KF03E-0021248- HIKGG, số khung: ZDCKF03A0YF- 021205, cấp ngày26/3/2011 tại Công an Bến Tre.

Quađiều tra Thượng Hữu T khai nhận: Ngày 24/9/2011, tại quận 8, thành phố Hồ ChíMinh, Phạm Thanh V rủ Thượng Hữu T về Bến Tre cầm xe mô tô với giấy tờ giả, thìT đồng ý. Để thực hiện ý định, V giao cho T lái xe mô tô loại @150 gắn biển số71B1-026.72. Khi về đến Bến Tre trời đã tối, cả hai về nhà riêng nghỉ. Sángngày 25/9/2011, V lái xe mô tô 71B1-026.72 đến nhà chờ T đến tiệm chụp ảnh đốidiện UBND thành phố Bến Tre kêu T chụp ảnh loại 3 x 4cm. Sau đó, V lấy ảnh mà Tvừa chụp dán vào mẫu giấy Chứng minh nhân dân giả số 320559318 tên Nguyễn MinhH rồi đưa cho T cùng giấy đăng ký mô tô, xe máy giả số 005263 của xe mô tô71B1-026.72 tên Nguyễn Minh H. V kêu T sử dụng giấy tờ giả trên đi cầm xe mô tô71B1-026.72. Cả hai đến tiệm cầm đồ ở xã M cầm nhưng chủ tiệm không cầm. Sau đócả hai đến tiệm cầm đồ Q cầm. Bà Nguyễn Thị T1 nghĩ xe mô tô 71B1-026.72 có giấytờ thật nên đồng ý nhận cầm 20.000.000đ, nhưng do chủ nhật không có tiền nên bàT1 hẹn ngày hôm sau sẽ cầm. Sáng hôm sau, 26/9/2011, V lái xe mô tô 71B1-026.72chở T đến quán nước S thuộc ấp 1, xã Đ, gần tiệm cầm đồ Q, V ngồi uống nước đợi,còn T đem xe mô tô 71B1-026.72 cùng giấy tờ giả đến tiệm Q cầm như đã hẹn thì bịbắt giữ. Riêng V bỏ trốn. Ngày 09/8/2012, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công anthành phố Bến Tre mời được V về làm việc, thì V thừa nhận phạm tội cùng T nhưnêu trên.

Căncứ kết luận giám định số 310 ngày 09/12/2011 của Phòng kỹ thuật hình sự Công antỉnh Bến Tre kết luận: Giấy Chứng minh nhân dân số 320559318 tên Nguyễn Minh Hvà giấy Đăng ký mô tô, xe máy số 005263 tên Nguyễn Minh H làm bằng phương phápin phun màu.

Xemô tô loại @150 gắn biển số 71Bl-026.72, SM: HI- KF03E- 0021248- HIKGG, SK:ZDCKF03A0YF- 021205 có biển số thật là 52T1-2089, do Dương Quốc T2 đăng ký ngày03/4/2003 tại thành phố Hồ Chí Minh. Hiện T2 đã bán xe này cho người khác. Cơquan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã thông báo truy tìm chủ sở hữunhưng chưa xác định được chủ sở hữu.

Ngoàilần phạm tội trên, Phạm Thanh V còn khai nhận: Trước đó, trong thời gian làm việctại quận 8, thành phố Hồ Chí Minh, Phạm Thanh V quen với Nguyễn Ngọc C và DươngHuỳnh Nhựt M, cùng với thủ đoạn trên, từ 21/6/2011 đến 25/8/2011, C đã sáu lầnđưa 06 xe mô tô các loại không rõ nguồn gốc cùng giấy đăng ký mô tô, xe máy vàgiấy Chứng minh nhân dân giả không có dán ảnh kêu V dẫn M đem về Bến Tre cầm, cụthể như sau:

-Lần thứ l : Vào ngày 21/6/2011, C đưa cho M và V xe mô tô loại AIRBLADE gắn biểnsố 71H8-1818, số máy: NC110APE-0038864, số khung: NC110AP-0038864 cùng giấyđăng ký xe mô tô, xe máy số 056271 của xe mô tô 71H8-1818 và giấy Chứng minhnhân dân không có dán ảnh tên Nguyễn Minh H rồi kều V dẫn M đem về Bến Tre cầm.Về thành phố Bến Tre, V dẫn M đi chụp ảnh để dán vào mẫu giấy Chứng minh nhândân và chỉ cho M tiệm cầm đồ Q để M vào cầm xe mô tô 71H8-1818 với giấy tờ giảcho bà Nguyễn Thị T1 được 35.000.000 đồng, đem tiền lên giao cho C. C chia choM và V mỗi ngưòi 500.000 đồng, phần C được 34.000.000 đồng.

Căncứ kết luận giám định số 79 ngày 04/6/2012 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnhBến Tre kết luận: Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 056271 tên Nguyễn Minh H,sinh năm 1984, địa chỉ: 143C Hoàng Lam, phường 5, thành phố B; BSĐK 71H8-1818,số máy: NC110APE-0038864, số khung: NC110AP-0038864 cấp ngày 10/9/2010 tại Côngan Bến Tre làm giả bằng phương pháp in phun màu.

Xemô tô loại AIRBLADE gắn biển số 71H8-1818, số máy: NC110APE- 0038864, số khung:NC110AP-0038864 có biển số thật là 54N9-2038 do Trương Thị Thanh N đăng ký ngày18/11/2009 tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 05/5/2011, chị N bị mất trộm tại ấp1, phường P, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan CSĐT Công an thành phố BếnTre đã chuyển xe mô tô trên cho Cơ quan CSĐT Công an quận Bình Chánh, thành phốHồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền;

-Lần thứ 2: Ngày 30/6/2011, C đưa cho M và V xe mô tô loại HAYATE gắn biển số71H8-2579, SM: F4A5-100689, SK: *RLSCF4EE- 070100689* cùng giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 056271 của xe mô tô 71H8-2579 và giấy chứng minh nhân dân khôngcó dán ảnh tên Trần Minh H1 rồi kêu V và M đem xe về thành phố Bến Tre cầm. V lấyảnh của V dán vào giấy chứng minh nhân dân rồi sử dụng số giấy tờ giả đó đến tiệmcầm đồ Q cầm xe mô tô 71H8-2579 cho bà Nguyễn Thi T1 được 15.000.000 đồng. V vàM đem tiền lên giao cho C, C chia cho M và V mỗi người 500.000 đồng, phần C được14.000.000 đồng.

Căncứ kết luận giám định số 79 ngày 04/6/2012 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnhBến Tre kết luận: giấy đăng ký mô tô, xe máy số 056271 tên Trần Minh H1 sinhnăm 1984, địa chỉ: 143C, phường N, thành phố B, BSĐK 71H8-2579, SM:F4A5-100689, SK: *RLSCF4EE- 070100689* cấp ngày 11/9/2010 tại Công an tỉnh BếnTre làm giả bằng phương pháp in phim màu.

Biểnsố xe mô tô 71H8-2579 là xe ba bánh do Nguyễn Văn X ngụ số 539, ấp C, xã T, huyệnC, tỉnh Bến Tre đăng ký tại Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre. Cơquan CSĐT Công an thành phố Bến Tre đã thông báo truy tìm chủ sở hữu xe mô tôloại HAYATE, SM: F4A5-100689, SK: *RLSCF4EE-070100689* nhưng chưa tìm được chủsở hữu.

-Lần thứ 3: Trước ngày 05/7/2011, C đưa cho M và V xe mô tô loại SH gắn biển số71H5-2313, SM: KF08E*0084646*KTGE1, SK: ZDCK- F08A07F150334 cùng giấy đăng kýxe mô tô, xe máy số 107638 của xe mô tô 71H5-2313 và giấy chứng minh nhân dânkhông có dán ảnh tên Trương Thanh S để đem về Bến Tre cầm nhưng không được. Vđem xe 71H5-2313 về gửi tại nhà V ở ấp H, xã M, thành phố B rồi cùng M trở lênthành phố Hồ Chí Minh báo cho C biết. Sau đó C kêu M rủ Trần Thành D (bạn của Cvà M) đi cầm. M hướng dẫn D cắt tóc, chụp hình dán vào giấy chứng minh nhân dângiả. Ngày 05/7/2011, V, M và D tiếp tục về Bến Tre. V lấy xe mô tô 71H5-2313đưa cho M và D sử dụng giấy tờ giả đem đến tiệm cầm đồ Q. D vào cầm cho bà NguyễnThị T1 được 60.000.000 đồng. M và V đưa cho D 1.500.000 đồng, số tiền còn lạiđưa lên cho C, C đưa cho M và V mỗi người 1.000.000 đồng, phần C được56.500.000 đồng.

Căncứ kết luận giám định số 79 ngày 04/6/2012 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnhBến Tre kết luận: giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 107638 tên Trương Thanh S, địachỉ 446, ấp P, TT C, huyện C, BSĐK 71H5-2313, SM: KF08E*0084646*KTGE1, SKZDCK-F08A07F150334, cấp ngày 11/6/2008 tại Công an Ben Tre làm giả bằng phươngpháp in phun màu.

Xemô tô loại SH gắn biển số 71H5-2313, SM KF08E*0084646*KTGE1, SK:ZDCK-F08A07F150334 có biển số thật là 59P1-155.81 do Đỗ Thanh S1 đăng ký tạithành phố Hồ Chí Minh. Ngày 29/6/2011, anh S1 bị mất trộm tại khu phố 1, phườngTân Thới Hiệp, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan cảnh sát điều tra Côngan thành phố Bến Tre đã chuyển xe mô tô trên cho Cơ quan CSĐT Công an quận 12,thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền.

Biểnsố xe 71H5-2313 do Trần Văn C1 ngụ ấp 13, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre đăng ký tạiPhòng cảnh sát giao thông Công an Bến Tre.

-Lần thứ 4: Ngày 03/8/2011, C đưa cho M và V xe mô tô loại AIRBLADE gắn biển số71B3-01627, SM: JE27E0736839, SK RL-HJF2705BY031267 cùng giấy đăng ký xe mô tô,xe máy số 036275 của xe mô tô 71B3-016.27 và giấy chứng minh nhận dân không códán ảnh tên Võ Ngọc H2 để đem về Bến Tre cầm. Khi về đến Bến Tre trời đã tối, cả2 vào nhà trọ nghi. Sáng hôm sau, V dán ảnh V vào giấy chứng minh nhân dân rồisử dụng giấy tờ giả đem đến tiệm cầm đồ U số 315A, khu phố 1, phường 5, thànhphố B cầm xe mô tô 71B3-016.27 cho bà Ngô Trúc U được 30.000.000 đồng rồi cùngM đưa lên cho C, C đưa cho M và V mỗi người 700.000 đồng, phần C được28.600.000 đồng.

Căncứ kết luận giám định số 79 ngày 04/6/2012 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnhBến Tre kết luận: giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 036275 tên Võ Ngọc H2, địachỉ ấp 4, QL 60E, huyện C, Bến Tre, BSĐK 71B3-016.27, SM: JF27E-0736839, SK:RL-HJF2705BY031267, cấp ngày 22/3/2011 tại Công an Bến Tre làm giả bằng phươngpháp in phun màu.

Xemô tô loại AIRBLADE gắn biển số 71B3-016.27, SM: JF27E- 0736839, SK:RL-HJF2705BY031267 có biển số thật là 61B1-056.54 do Trần Quốc T3 đăng ký tạiBình Dương. Ngày 30/7/2011, anh T3 bị mất trộm tại Siêu thị Coop Mark thành phốThủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố BênTre đã chuyển xe mô tô trên cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnhBình Dương xử lý theo thẩm quyền.

Biểnsố xe 71B3-016.27 không đăng ký tại Phòng cảnh sát giao thông Công an Bến Tre.

-Lần thứ 5: Ngày 12/8/2011, C đưa cho M và V xe mô tô loại Lead gắn biển sổ71B3-028.16, SM JF24E-0123426, SK: RLHJF24069Y101910 cùng giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 016870 của xe mô tô 71B3-028.16 và giấy chứng minh nhân dân khôngcó dán ảnh tên Võ Ngọc H2 để đem về Bến Tre cầm. V dán ảnh V vào giấy chứngminh nhân dân rồi sử dụng giấy tờ giả đem đến tiệm cầm đồ P số 109/2C, ấp A, xãM, thành phố B cầm xe mô tô 71B3-028.16 cho bà Nguyễn Trần Phương T được22.000.000 đồng rồi cùng M đưa lên cho C, C đưa cho M và V mỗi người 700.000 đồng,phần C được 20.600.000 đồng.

Căncứ kết luận giám định số 79 ngày 04/6/2012 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnhBến Tre kết luận giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 016870 tên Võ Ngọc Hưng, địachỉ ấp 4, QL 60, huyện C, Bến Tre, BSĐK 71B3- 028.16, SM: JP24E-0123426, SK:RLHJF24069Y101910 , cấp ngày 21/3/2011 tại Công an Bến Tre làm giả bằng phươngpháp in phun màu.

Xemô tô loại Lead gắn biển số 71B3-028.16, SM: JF24E-0123426, SK:RLHJF24069Y101910 có biển số thật là 61S3-2521 do Lưu Văn Q đăng ký tại BìnhDương. Ngày 05/2/2011, anh Q bị mất trộm tại nhà số 72/8, đường T, ấp B, xã Đ,thị xã D, tỉnh Bình Dương. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tređã chuyển xe mô tô trên cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dươngxử lý theo thẩm quyền.

Biểnsố xe 71B3-028.16 không đăng ký tại Phòng cảnh sát giao thông Công an Bến Tre.

-Lần thứ 6: Ngày 25/8/2011, C đưa cho M 01 xe mô tô loại NOUVO LX gắn biển số71B3-012.77, SM: 5P1-293531, SK: RLCN5P110BY293528 cùng giấy đăng ký xe mô tô,xe máy số 018026 của xe mô tô 71B3-012.77 và giấy chứng minh nhân dân không códán ảnh tên Trần Văn A và đưa cho V 01 xe mô tô loại @150 gắn biển số71B1-026.72, SM: HI-KF03E-0021248- HIKGG, SK: ZDCKF03A0YF-021205 cùng giấy đăngký xe mô tô, xe máy số 005263 của xe mô tô 71B3-026.72 và giấy chứng minh nhândân không có dán ảnh tên Nguyễn Minh H để đem về Bến Tre cầm. V dẫn M đến tiệmcầm đồ P để M vào cầm xe mô tô 71B3-012.77 cho bà Nguyễn Trần Phương T được20.000.000 đồng. Riêng xe mô tô 71B1-026.72, V không cầm được. Sau đó, V và Mđưa xe và tiền lên cho C, C đưa cho Minh 500.000 đồng, phần C được 19.500.000 đồng.

Căncứ kết luận giám định số 79 ngày 04/6/2012 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnhBến Tre kết luận: giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 018026 tên Trần Văn A, địachỉ QL 60, AK, huyện C, Bến Tre, BSĐK 71B3- 012.77, SM: 5P1-293531, SK:RLCN5P110BY293528, Cấp ngày 24/7/2011 tại Công an Bến Tre làm giả bằng phươngpháp in phun màu.

Biểnsố xe mô tô 71B3-012.77 không đăng ký tại Phòng cảnh sát giao thông Công an BếnTre. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bến Tre đã thông báo truy tìm chủ sở hữu xemô tô loại NOUVO LX SM: 5P1-293531, SK: RLCN5P110BY293528 nhưng chưa tìm đượcchủ sở hữu.

Ngày24/9/2011, sau khi nhận lại xe mô tô loại @150 gắn biển số 71B1- 026.72, PhạmThanh V rủ Thượng Hữu T tiếp tục về Bến Tre cầm với giấy tờ giả thì bị bắt quảtang.

TheoBiên bản giám định pháp y tâm thần số 309/2013/TTGĐPYTT ngày 03/01/2014 củaTrung tâm giám định pháp y tâm thần thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trước,trong và sau khi phạm tội ngày 05/7/2011, bị can Trần Thành D bị bệnh tâm thầnphân liệt, thể di chứng, giai đoạn thuyên giảm không hoàn toàn (F20.5.4-ICD10);hạn chế khả năng nhận thức và đỉều khiển hành vi.

TạiBản án hình sự sơ thẩm số 18/2014/HSST ngày 05/3/2014, Toà án nhân dân thành phốBến Tre, tỉnh Bến Tre áp dụng điểm e khoản 2 Điều 139, điểm b, p khoản 1, khoản2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33, Điều 53 Bộ luật hình sự xử phạt bịcáo Dương Huỳnh Nhựt M 04 năm 6 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”,thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoàira bản án sơ thầm còn quyết định về hình phạt đối vói các bị cáo khác, tráchnhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo quy định củapháp luật.

Ngày17/03/2014, bị cáo Dương Huỳnh Nhựt M có đơn kháng cáo với nội dung xin giảmhình phạt.

Ngày19/6/2014, bị cáo M có đơn xin rứt đơn kháng cáo vói nội dung mức án mà Tòa áncấp sơ thẩm đã xử phạt là phù hợp.

Ngày26/6/2014 bị cáo M có đơn xin rút lại đơn yêu cầu hủy đơn kháng cáo với nộidung yêu cầu tiếp tục xét xử phúc thẩm.

TạiBản án hình sự phúc thẩm số 66/2014/HSPT ngày 30/6/2014, Tòa án nhân dân tỉnh BếnTre quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 18/2014/HSST ngày 05/3/2014 củaTòa án nhân dân thành phố Bến Tre, giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dânthành phố Bến Tre để điều tra, xét xử lại theo trình tự thủ tục chung, với lýdo: Thượng Hữu T là người thực hiện giao dịch cầm cố với bà T1, trong khi bà T1đang kiểm tra tính hợp lệ của giấy tờ để thực hiện việc cầm cố thì bị bắt quảtang, T chưa chiếm đoạt được tài sản và người bị hại chưa bị thiệt hại về tài sản,chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (yếu tố cấu thành tộinày là khi tài sản bị chiếm đoạt), cấp sơ thẩm chưa làm rõ số tiền bị bắt quảtang để xem xét yếu tố cấu thành tội danh đối với Thượng Hữu T và yếu tố địnhkhung hình phạt đối với Nguyễn Ngọc C và Phạm Thanh V. Quan điểm của Kiểm sátviên đề nghị cần làm rõ hành vi làm giả giấy tờ của cơ quan tổ chức trong vụ ánđể áp dụng đúng pháp luật đối với các bị cáo là có cơ sở. Ngoài ra, Tòa án cấpsơ thẩm thực hiện việc nghị án thể hiện tại biên bản nghị án không ghi tỷ lệ biểuquyết của Hội đồng xét xử là không đúng quy định tại Điều 17 và Điều 222 Bộ luậttố tụng hình sự là vi phạm thủ tục tố tụng.

TạiKháng nghị giám đốc thẩm số 51/2014/KN-HS ngày 19/11/2014, Chánh án Tòa án nhândân tối cao kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 66/2014/HSPT ngày 30/6/2014của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre và đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối caoxét xử giám đốc thẩm hủy Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ cho Tòaán nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

Tạiphiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí vớiKháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căncứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy rằng:

[1]Các bị cáo Thượng Hữu T và Phạm Thanh V biết các loại giấy tờ mang đi cầm cố làgiấy tờ giả, biển số xe máy là biển giả và đã sử dụng các giấy tờ giả để mangđi cầm cố tại hiệu cầm đồ của bà Nguyễn Thị T1 nhằm chiếm đoạt số tiền20.000.000đ mà bà T1 đã thỏa thuận cho các bị cáo cầm xe. Trong quá trình điềutra, V khai nhận trong khoảng thời gian từ ngày 21/6/2011 đến ngày 25/8/2011 Vquen với Nguyễn Ngọc C và Dương Huỳnh Nhựt M, Trần Thành D. C đã 06 lần đưa 06xe mô tô các loại không rõ nguồn gốc cùng giấy đăng ký xe mô tô giả, giấy chứngminh nhân dân giả không có dán ảnh kêu V dẫn M, D đem về Bến Tre cầm để chiếmđoạt tài sản của các chủ tiệm cầm đồ. Tổng cộng C và V tham gia 07 lần chịutrách nhiệm trên số tiền chiếm đoạt là 202.000.000đ, M tham gia 06 lần chịutrách nhiệm trên số tiền chiếm đoạt là 182.000.000đ, D tham gia 01 lần chịutrách nhiệm trên số tiền chiếm đoạt là 60.000.000đ, T tham gia 01 lần chịutrách nhiệm trên số tiền chiếm đoạt là 20.000.000đ. Tòa án cấp sơ thẩm kết áncác bị cáo Nguyễn Ngọc C, Phạm Thanh V, Dương Huỳnh Nhựt M, Trần Thành D, ThượngHữu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm còn có sai sót là tại Biên bản nghị án không ghitỷ lệ biểu quyết của Hội đồng xét xử về từng vấn đề một là không đúng quy địnhtại Điều 17 và Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự, do đó cần phải rút kinh nghiệm.

[3]Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định Thượng Hữu T chưa chiếm đoạtđược tài sản và người bị hại (bà T1) chưa bị thiệt hại về tài sản nên hành vi củaT chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; các bị cáo biếtcác loại giấy tờ mang đi cầm cố là giấy tờ giả và sử dụng giấy tờ giả mang đi lừadối các tiệm cầm đồ nên hành vi của các bị cáo có dấu hiệu phạm tội “Làm giảcon dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và hủy Bản án sơ thẩm để điều tra lạilà sai lầm nghiêm trọng. Bởi vì, bị cáo T và V không thực hiện tội phạm được đếncùng là do trong lúc bà T1 đang kiểm tra giấy tờ thì bị Công an thành phố BếnTre bắt quả tang (do nguyên nhân ngoài ý muốn của các bị cáo). Như vậy, hành viphạm tội của các bị cáo là ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, hành vi dùng giấy tờgiả và xe máy mang biển kiểm soát giả đi cầm cố là hành vi dùng thủ đoạn gian dốiđể các chủ tiệm cầm đồ tin và tự nguyện giao tiền cho các bị cáo, là đặc điểm nổibật của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bởicác lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 285 và Điều 287 Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH

HủyBản án hình sự phúc thẩm số 66/2014/HSPT ngày 30/6/2014 của Tòa án nhân dân tỉnhBến Tre; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm lại theođúng quy định pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“[3]Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định Thượng Hữu T chưa chiếm đoạtđược tài sản và người bị hại (bà T1) chưa bị thiệt hại về tài sản nên hành vi củaT chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; các bị cáo biếtcác loại giấy tờ mang đi cầm cố là giấy tờ giả và sử dụng giấy tờ giả mang đi lừadối các tiệm cầm đồ nên hành vi của các bị cáo có dấu hiệu phạm tội “Làm giảcon dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và hủy Bản án sơ thẩm để điều tra lạilà sai lầm nghiêm trọng. Bởi vì, bị cáo T và V không thực hiện tội phạm được đếncùng là do trong lúc bà T1 đang kiểm tra giấy tờ thì bị Công an thành phố BếnTre bắt quả tang (do nguyên nhân ngoài ý muốn của các bị cáo). Như vậy, hành viphạm tội của các bị cáo là ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, hành vi dùng giấy tờgiả và xe máy mang biển kiểm soát giả đi cầm cố là hành vi dùng thủ đoạn gian dốiđể các chủ tiệm cầm đồ tin và tự nguyện giao tiền cho các bị cáo, là đặc điểm nổibật của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.”