luật sư Trần Minh Hùng trả lời báo chí vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng và thủ tục xét xử ở tòa án?
luật sư Trần Minh Hùng trả lời báo chí vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng và thủ tục xét xử ở tòa án?
luật sư Trần Minh Hùng trả lời báo chí vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng và thủ tục xét xử ở tòa án?
Thứ nhất: Việc tốngđạt quyết định đối với bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưvậy đã đúng chưa? Cần phải tống đạt đến nơi ở cuối cùng của họ hay niêm yết?
Theo quy định của Bộ luật tố tụngdân sự hiện hành thì Toàán, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án có nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông báovăn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cá nhân, cơquan, tổ chức có liên quan theo quy định của Bộ luật này. Các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt hoặcthông báo như:
1.Bản án, quyết định của Toà án.
2.Đơn khởi kiện, đơn kháng cáo, quyết định khángnghị.
3.Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tốtụng dân sự.
4.Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứnglệ phí, án phí, lệ phí và các chi phí khác.
5.Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quyđịnh.
Người thực hiện việc cấp, tống đạthoặc thông báo văn bản tố tụng
1.Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tốtụng do những người sau đây thực hiện:
a) Người tiếnhành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụthực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng;
b) Uỷ ban nhândân cấp xã nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơingười tham gia tố tụng dân sự làm việc khi Toà án có yêu cầu;
c) Đương sự,người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự trong những trường hợp do Bộ luật này quy định;
d) Nhân viênbưu điện;
đ) Những ngườikhác mà pháp luật có quy định.
2.Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạthoặc thông báo mà không làm đúng trách nhiệm của mình thì tuỳ theo tính chất,mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu tráchnhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của phápluật
Các phương thức cấp, tống đạt hoặc thôngbáo văn bản tố tụng
Việc cấp, tốngđạt hoặc thông báo văn bản tố tụng được thực hiện bằng các phương thức sau đây:
1.Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp, qua bưuđiện hoặc người thứ ba được uỷ quyền;
2.Niêm yết công khai;
3.Thông báo trên các phương tiện thông tin đạichúng.
Tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt hoặcthông báo văn bản tố tụng
1.Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tốtụng được thực hiện theo quy định của Bộ luật này thì được coi là hợp lệ.
2.Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạthoặc thông báo văn bản tố tụng phải thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Người có nghĩavụ thi hành các văn bản tố tụng đã được cấp, tống đạt hoặc thông báo hợp lệphải nghiêm chỉnh thi hành; trường hợp không thi hành hoặc thi hành không đúngthì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truycứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy địnhcủa pháp luật.
Thủ tục cấp, tống đạthoặc thông báo trực tiếp
Ngườithực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng phải trực tiếpchuyển giao cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng có liênquan. Người được cấp, tống đạt hoặc thông báo phải ký nhận vào biên bản hoặc sổgiao nhận văn bản tố tụng. Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ đượccấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng.
Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báotrực tiếp cho cá nhân
1.Người được cấp, tống đạt hoặc thông báo là cánhân thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho họ.
2.Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặcthông báo vắng mặt thì văn bản tố tụng có thể được giao cho người thân thích cóđủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với họ ký nhận và yêu cầu người này camkết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo. Ngày kýnhận của người thân thích cùng cư trú được coi là ngày được cấp, tống đạt hoặcthông báo
Trong trườnghợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo không có người thân thích có đủnăng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng họ không chịu nhận hộ văn bảntố tụng thì có thể chuyển giao văn bản đó cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởngthôn, làng, ấp, bản, khóm, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là tổ trưởng tổdân phố), Uỷ ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn nơi người được cấp,tống đạt hoặc thông báo cư trú và yêu cầu những người này cam kết giao lại tậntay ngay cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo.
3.Trong trường hợp việc cấp, tống đạt hoặc thôngbáo qua người khác thì người thực hiện phải lập biên bản ghi rõ việc người đượccấp, tống đạt hoặc thông báo vắng mặt, văn bản tố tụng đã được giao cho ai; lýdo; ngày, giờ giao; quan hệ giữa họ với nhau; cam kết giao lại tận tay ngay vănbản tố tụng cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo. Biên bản có chữ ký củangười nhận chuyển văn bản tố tụng và người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặcthông báo, người chứng kiến.
4.Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặcthông báo đã chuyển đến địa chỉ mới thì phải cấp, tống đạt hoặc thông báo theođịa chỉ mới của họ.
5.Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặcthông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ thì ngườithực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo phải lập biên bản về việc khôngthực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo có chữ ký của người cung cấpthông tin.
6.Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặcthông báo từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạthoặc thông báo phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xácnhận của tổ trưởng tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn vềviệc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng.
Thủ tục cấp, tống đạthoặc thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức
Trườnghợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản tốtụng phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịutrách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người nàyký nhận. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt hoặc thông báo cóngười đại diện tham gia tố tụng hoặc cử người đại diện nhận văn bản tố tụng thìnhững người này ký nhận văn bản tố tụng đó. Ngày ký nhận là ngày được cấp, tốngđạt hoặc thông báo.
Thủ tục niêm yết côngkhai
1.Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng chỉđược thực hiện khi không rõ tung tích của người được cấp, tống đạt hoặc thôngbáo hoặc không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp.
2.Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do Toàán trực tiếp hoặc uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cưtrú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo được thực hiện theothủ tục sau đây:
a) Niêm yết bảnchính tại trụ sở Toà án, Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuốicùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;
b) Niêm yết bảnsao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặcthông báo;
c) Lập biên bảnvề việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, nămniêm yết.
3.Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụnglà mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết.
Thủ tục thông báo trênphương tiện thông tin đại chúng
1.Việc thông báo trên phương tiện thông tin đạichúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định làviệc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt hoặc thôngbáo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt hoặc thông báo.
Việc thông báotrên phương tiện thông tin đại chúng có thể được thực hiện nếu có yêu cầu củacác đương sự khác. Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng dođương sự có yêu cầu thông báo phải chịu.
2.Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúngphải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phátsóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong bangày liên tiếp.
Nếu đúng là Tòa án nhân dân quận Bình Thạnhkhông thực hiện đúng cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng như trình tự, thủtục tố tụng quy định như trên là đã vi phạmthủ tục tố tụng. Do vậy, bản án dù có hiệu lực cũng cần phải được kháng nghị hủyán sơ thẩm để xét xử lại sơ thẩm từ đầu đúng theo quy định pháp luật nhằm bảo đảmquyền và lợi ích của các bên.
Thứ 2: Sau khi đưa vụ án ra xét xử thì có phảigửi bản án cho họ không? Đằng sau đó, không gửi mà khi họ lên yêu cầu cung cấpbản án thì không cung cấp. Chỉ đến khi họ khiếu nại nhiều thì chỉ cung cấp bảnán là bản sao, không cung cấp bản chính. Như vậy có đúng và hợp lệ không?
Vì vậy mà họ không nhận
Nếu các đương sự chưanhận được bản án gốc thì được Tòa án gửi bản gốc, nếu bản án gốc đã thất lạcthì được Tòa án gửi bản trích lục khi có yêu cầu. Bản trích lục có giá trị pháplý như bản gốc. Việc gửi bản án gốc vẫn phải được thực hiện đúng về trình tự thủtục tố tụng tống đạt như các văn bản khác mà tôi nêu ở trên.
Thứ 3: Việc vay vốn theo quy trình từ một ngân hàng khác, sau đóđưa tiền vào giải ngân rồi rút sổ, đến ủy ban xóa thế chấp. Tiếp đến, đến phòngcông chứng chứng thực rồi đến ngân hàng để ký hợp đồng thế chấp, ký hợp đồngtín dụng và giải ngân trong vòng 1 ngày (chỉ 6 tiếng đồng hồ) có đúng quy trìnhvà có phù hợp với quy định của ngân hàng hay không?
Theo quy định pháp luật việc đăng ký thế chấpquyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở là trong thời hạn 03 ngày. Việc đăng kýxóa thế chấp trong trường hợp này cũng 03 ngày. Do vậy việc các bên chỉ làm vừađăng ký xóa thế thế chấp từ ngân hàng này để tiếp tục vay ngân hàng khác ngaytrong ngày và ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và đăng ký thế chấp, giảingân trong ngày là quá nhanh so với thời gian luật định.
Thứ 4: Việc một công ty có tới hai giám đốc kýtrong hợp đồng thế chấp và hợp đồng tín dụng có chấp nhận được không? Có phùhợp để ngân hàng cho vay tiền?
Theo quy định, đạidiện theo pháp luật chỉ là 01 người. Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần thì chủ tịch Hội đồng quảntrị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của côngty được quy định tại Điều lệ công ty. Việc một công ty cótới 02 giám đốc ký trên hợp đồng thế chấp và hợp đồng tín dụng theo tôi về cơcấu, tổ chức công ty có lẽ có vấn đề. Để xem việc này có hợp lệ hay không cầnphần xem lại giấy phép đăng ký kinh doanh, điều lệ công ty và văn bản ủy quyềncụ thể mới biết được việc ký kết này hợp lệ hay chưa hợp lệ.
Thứ nhất: Việc tống đạt quyết định đối với bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như vậy đã đúng chưa? Cần phải tống đạt đến nơi ở cuối cùng của họ hay niêm yết?
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án có nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của Bộ luật này. Các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt hoặc thông báo như:
1.Bản án, quyết định của Toà án.
2.Đơn khởi kiện, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị.
3.Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự.
4.Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và các chi phí khác.
5.Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định.
Người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng
1.Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng do những người sau đây thực hiện:
a) Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng;
b) Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc khi Toà án có yêu cầu;
c) Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do Bộ luật này quy định;
d) Nhân viên bưu điện;
đ) Những người khác mà pháp luật có quy định.
2.Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo mà không làm đúng trách nhiệm của mình thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Các phương thức cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng
Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng được thực hiện bằng các phương thức sau đây:
1.Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp, qua bưu điện hoặc người thứ ba được uỷ quyền;
2.Niêm yết công khai;
3.Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng
1.Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định của Bộ luật này thì được coi là hợp lệ.
2.Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng phải thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Người có nghĩa vụ thi hành các văn bản tố tụng đã được cấp, tống đạt hoặc thông báo hợp lệ phải nghiêm chỉnh thi hành; trường hợp không thi hành hoặc thi hành không đúng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp
Người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng phải trực tiếp chuyển giao cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng có liên quan. Người được cấp, tống đạt hoặc thông báo phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận văn bản tố tụng. Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ được cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng.
Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp cho cá nhân
1.Người được cấp, tống đạt hoặc thông báo là cá nhân thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho họ.
2.Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo vắng mặt thì văn bản tố tụng có thể được giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với họ ký nhận và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo. Ngày ký nhận của người thân thích cùng cư trú được coi là ngày được cấp, tống đạt hoặc thông báo
Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo không có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng họ không chịu nhận hộ văn bản tố tụng thì có thể chuyển giao văn bản đó cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, khóm, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là tổ trưởng tổ dân phố), Uỷ ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn nơi người được cấp, tống đạt hoặc thông báo cư trú và yêu cầu những người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo.
3.Trong trường hợp việc cấp, tống đạt hoặc thông báo qua người khác thì người thực hiện phải lập biên bản ghi rõ việc người được cấp, tống đạt hoặc thông báo vắng mặt, văn bản tố tụng đã được giao cho ai; lý do; ngày, giờ giao; quan hệ giữa họ với nhau; cam kết giao lại tận tay ngay văn bản tố tụng cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo. Biên bản có chữ ký của người nhận chuyển văn bản tố tụng và người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo, người chứng kiến.
4.Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo đã chuyển đến địa chỉ mới thì phải cấp, tống đạt hoặc thông báo theo địa chỉ mới của họ.
5.Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ thì người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo có chữ ký của người cung cấp thông tin.
6.Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng.
Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức
Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt hoặc thông báo có người đại diện tham gia tố tụng hoặc cử người đại diện nhận văn bản tố tụng thì những người này ký nhận văn bản tố tụng đó. Ngày ký nhận là ngày được cấp, tống đạt hoặc thông báo.
Thủ tục niêm yết công khai
1.Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng chỉ được thực hiện khi không rõ tung tích của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo hoặc không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp.
2.Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do Toà án trực tiếp hoặc uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo được thực hiện theo thủ tục sau đây:
a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Toà án, Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;
b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;
c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.
3.Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng là mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết.
Thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng
1.Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt hoặc thông báo.
Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng có thể được thực hiện nếu có yêu cầu của các đương sự khác. Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng do đương sự có yêu cầu thông báo phải chịu.
2.Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng phải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp.
Nếu đúng là Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh không thực hiện đúng cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng như trình tự, thủ tục tố tụng quy định như trên là đã vi phạm thủ tục tố tụng. Do vậy, bản án dù có hiệu lực cũng cần phải được kháng nghị hủy án sơ thẩm để xét xử lại sơ thẩm từ đầu đúng theo quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các bên.
Thứ 2: Sau khi đưa vụ án ra xét xử thì có phải gửi bản án cho họ không? Đằng sau đó, không gửi mà khi họ lên yêu cầu cung cấp bản án thì không cung cấp. Chỉ đến khi họ khiếu nại nhiều thì chỉ cung cấp bản án là bản sao, không cung cấp bản chính. Như vậy có đúng và hợp lệ không?
Vì vậy mà họ không nhận
Nếu các đương sự chưa nhận được bản án gốc thì được Tòa án gửi bản gốc, nếu bản án gốc đã thất lạc thì được Tòa án gửi bản trích lục khi có yêu cầu. Bản trích lục có giá trị pháp lý như bản gốc. Việc gửi bản án gốc vẫn phải được thực hiện đúng về trình tự thủ tục tố tụng tống đạt như các văn bản khác mà tôi nêu ở trên.
Thứ 3: Việc vay vốn theo quy trình từ một ngân hàng khác, sau đó đưa tiền vào giải ngân rồi rút sổ, đến ủy ban xóa thế chấp. Tiếp đến, đến phòng công chứng chứng thực rồi đến ngân hàng để ký hợp đồng thế chấp, ký hợp đồng tín dụng và giải ngân trong vòng 1 ngày (chỉ 6 tiếng đồng hồ) có đúng quy trình và có phù hợp với quy định của ngân hàng hay không?
Theo quy định pháp luật việc đăng ký thế chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở là trong thời hạn 03 ngày. Việc đăng ký xóa thế chấp trong trường hợp này cũng 03 ngày. Do vậy việc các bên chỉ làm vừa đăng ký xóa thế thế chấp từ ngân hàng này để tiếp tục vay ngân hàng khác ngay trong ngày và ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và đăng ký thế chấp, giải ngân trong ngày là quá nhanh so với thời gian luật định.
Thứ 4: Việc một công ty có tới hai giám đốc ký trong hợp đồng thế chấp và hợp đồng tín dụng có chấp nhận được không? Có phù hợp để ngân hàng cho vay tiền?
Theo quy định, đại diện theo pháp luật chỉ là 01 người. Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần thì chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ công ty. Việc một công ty có tới 02 giám đốc ký trên hợp đồng thế chấp và hợp đồng tín dụng theo tôi về cơ cấu, tổ chức công ty có lẽ có vấn đề. Để xem việc này có hợp lệ hay không cần phần xem lại giấy phép đăng ký kinh doanh, điều lệ công ty và văn bản ủy quyền cụ thể mới biết được việc ký kết này hợp lệ hay chưa hợp lệ.
Qúy vị có thể xem chi tiết đầy đủ trên báo giấy số ra 71 (189) thứ năm ngày 19/11/2015 trên báo Kinh doanh và Pháp luật.
