BÀI BÀO CHỮACHO BỊ CÁO ĐOÀN ĐĂNG LUẬT

Tôi luật sư: Trần Minh Hùng, Văn phòng luật sư GiaĐình – Đoàn luật sư TPHCM, bào chữa cho bị cáo Đoàn Đăng Luật bị Tòa án nhândân TPHCM xét xử về tội cố ý làm trái các quy định của nhà nước gây hậu quảnghiêm trọng với mức hình phạt tới 11 năm tù giam.

I/. QUAN ĐIỂM BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ ĐỐI VỚI NỘI DUNG VỤÁN.

Bản án phúc thẩm xét xử Huyền Như không bị hủy phần200 tỷ đồng của Navibank và cũng không ra quyết định khởi tố vụ án đối với hànhvi liên quan số tiền này, nhưng Cáo trạng lại truy tố các thành viên liên quanđến số tiền 200 tỷ đồng là vi phạm nghiêm trọng tố tụng, do vi phạm nguyên tắc“một hành vi chỉ được xét xử một lần”;Không có cuộc họp Hội đồng Alco quyết định việc gửi tiền sang Vietinbank, khôngbiết về chủ trương của Hội đồng Alco, chưa bao giờ thực hiện bất kỳ chỉ đạo nàocủa Hội đồng Alco cho nhân viên của Navibank vay tiền để đem gửi vàoVietinbank; hành vi bị cáo Luật nhận tiền lãi suất chênh lệch là không tráipháp luật.

Khi tham gia họp HĐTD các bị caó đã thực hiện đúng quytrình, quy định; khi các bị can phê duyệt cấp tín dụng là phê duyệt cho nhânviên vay gửi vào Vietinbank CN Nhà Bè, chứ không phải phê duyệt gửi vàoVietinbank CN TP. Hồ Chí Minh, chỉ khi các nhân viên ký lại hợp đồng tiền gửichuyển tiền vào Vietinbank CN TP. Hồ Chí Minh mới bị mất tiền, việc mất tiềnkhông chịu trách nhiệm về hậu quả này; việc Navibank cho vay cầm cố tiền gửivào Vietinbank và việc vi phạm Thông tư 02/2011/TT-NHNN không phải là nguyênnhân dẫn đến mất tiền, mà nguyên nhân mất tiền là do Vietinbank tự trích tiền từtài khoản này để thu nợ cho các khoản vay bất hợp pháp của Huỳnh Thị Huyền Như.Thực tế các bị cáo Luật không có bất kỳ hành vi nào vi phạm thông tư 02/2011. Bịcáo Luật không phải là thành viên của HĐTD, không họp HĐTD.

Tài liệu sao kê do Viện kiểm sát nhân dân cấp cao cungcấp chưa chính xác, không hợp pháp (Bút lục 5673-5694) vì là sao lại từ bản in, không có xác nhận của Vietinbank; Các tàiliệu cung cấp còn thiếu phần sao kê đối với số tiền 300 tỷ, vì khi chuyển tiềnthì phần 200 tỷ cũng giống như phần 300 tỷ, cần có cả sao kê này để đối chiếu;không có biên bản họp Hội đồng Alco nên chưa xác định được việc có hay không chủtrương gửi tiền như cáo trạng nhận định; chưa xác định được số tiền 200 tỷ mất ởđâu, hiện do ai quản lý, chiếm đoạt, cáo trạng, bản án xác định mất ởVietinbank chi nhánh Nhà Bè nhưng tất cả các Hợp đồng ở Nhà Bè đã được tất toánvà việc ký các hợp đồng gửi tiền vào Vietinbank chi nhánh TPHCM, không có văn bảnchứng minh Hội đồng tín dụng có biên bản họp duyệt cho vay và gửi tiền vàoVietinank CN TPHCM chỉ có việc là tiền chuyển sau khi chuyển vào Vietinbank CNTPHCM thì Huyền Như dùng những thủ đoạn gian dối để lừa Vietinbank CN TPHCM hoặccó thể có sự câu kết để rút tiền, vậy vai trò của các bị cáo ở đây là không cóhoặc chỉ có hậu quả gián tiếp; Ngoài Huyền Như còn có ai giúp sức để việc rúttiền này xảy ra mà Vietinbank không hề hay biết; Số tiền trong vụ án này có nhiềumâu thuẫn, hậu quả thì không biết là gì? Các hợp đồng gửi tiền tại VietinbankCN Nhà Bè đã được tất toán và sau đó được gửi tại Vietinbank CN TPHCM đúng quyđịnh nên tiền nằm trong tài khoản của Vietinbank; Bảng kê chi tiết chỉ là bảnphoto từ bản in, không phải photo từ bản gốc dó đó là không hợp pháp. Bản án sơthẩm đã có kiến nghị cơ quan chức năng điều tra, xem xét xử lý cá nhân, nhânviên của VTB có hành vi cấu kết với Huyện Như. Như vậy, nếu kết quả điều tra cósự tiếp tay của VTB thì lúc này số tiền này do VTB chiếm đoạt và VTB có nghĩa vụtrả tiền cho NVB. Qua những lập luận trên, LS đề nghị HĐXX xem xét hủy bản ánsơ thẩm.

Các bị cáo thống nhất việc gửi tiền vì xem đó là một nghiệp vụ thông thườngkhông trái pháp luật, tiền không gửi cho các nhân viên mà chuyển trực tiếp vàotài khoản của các nhân viên mở tại Vietinbank. Bị cáo không biết tiền bị HuỳnhThị Huyền Như chiếm đoạt bằng cách nào, Cáo trạng nhận định Như đã giả chữ kýchuyển tiền đi nên trách nhiệm thuộc về Vietinbank vì lúc này tiền nằm trongtài khoản của Vietinbank. Việc thất thoát 200 tỷ không phải là lỗi trực tiếp củacác bị cáo mà là lỗi trực tiếp của bị ánNhư tại Vietinbank. Đối với các quy định mà Cáo trạng quy kết các bị cáo vi phạmquy định về quản lý kinh tế của Nhà nước thì Quyết định số 34/2010/QĐ-TGĐ ngày29/4/2010 là quyết định nội bộ của Ngân hàng Navibank, Quyết định này không phải văn bản quy pham pháp luật hay vănbản quản lý kinh tế của Nhà nước nên không thể căn cứ vào đó xác định bị cáo cốý làm trái, khoản 3, 4 Điều 7 của Quy chế cho vay ban hành kèm theo quyết địnhsố 1627/2001/QĐ-NHNN của Ngàn hàng Nhà nước và Điều 94 Luật các tổ chức tín dụngvề việc quy định có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ, có dự án đầu tư, phươngán sản xuất kinh doanh… thì các hợp đồng vay này đã được đảm bảo bằng các hợp đồngtiền gửi tại Vietinbank nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Thông tư02/2011/TT-NHNN ngày 03/3/2011 của Ngân hàng Nhà nước quy định về mức lãi suấthuy động vốn tối đa bằng Việt Nam đồng ápdụng đối với đơn vị đi huy động vốn còn Navibank trong trường hợp này là ngườiđi gửi tiền. Hành vi của bị cáo không phải là hành vi trực tiếp gây ra hậuquả của vụ án, bị cáo không thể biết về hậu quả có thể xảy ra đối với số tiền200 tỷ đồng, hậu quả này là do Huỳnh ThịHuyền Như giả các chứng từ có liên quan, qua mặt Vietinbank để lấy tiền từ tàikhoản của cá nhân nên Vietinbank phải có trách nhiệm. Cáo trạng kết luận hậuquả của vụ án đã được chứng minh bằng bản án có hiệu lực pháp luật, nhưng các bị cáo không được tham gia phiêntòa sơ, phúc thẩm để bảo vệ quyền lợi của mình nên dùng hậu quả của vụ án đểbuộc các bị cáo chịu trách nhiệm là chưa khách quan, không bảo đảm đúng pháp luật,quyền lợi cho bị cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng về quyền bào chữa của bịcáo. Theo sao kê tài khoản của 04 nhân viên tại ngân hàng Vietinbank chi nhánhThành phố Hồ Chí Minh đến ngày 31/12/2011thì số tiền trong tài khoản còn là 273.369.066đồng nên cần xem xét lại việc kết luận số tiền thất thoát 200 tỷ đồng đã chínhxác hay chưa.

Trong vụ án xét xử đối với bị án Huỳnh Thị Huyền Như, Tòa không mời các bị cáo tham gia tố tụng,Xác định Ngân hàng Navibank được xác định là nguyên đơn dân sự, lấy kết quả xétxử của Bản án số 02/2015/HSPT ngày 07/01/2015 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dântối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử đối với các bị cáo nhưng các bị cáokhông được tranh luận và thực hiện quyền bào chữa, tự bào chữa về hậu quả của vụán, không có quyền kháng cáo yêu cầu xem xét lại một phần hậu quả của bản án đãcó hiệu lực pháp luật là xâm phạm đến quyền lợi bị cáo. Đồng thời, Bản án sơ thẩmsố 69 của Tòa án nhân dân TPHCM lại xác định Navibank là người có quyền lợinghĩa vụ liên quan là mâu thuẫn với bán án số 02/2015.

Xác định có việc Navibank bị thất thoát 200 tỷ đồng tạiVietinbank hay không vì hiện tại số tiền này vẫn còn nằm trong tài khoảnVietinbank. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét Các hợp đồng tiền gửi vớiVietinbank là có thật, thực tế xuất hiện một số lệnh chi, rút, sao kê nhưng nhữngvấn đề này chưa được kiểm tra kỹ, đây là vấn đề cần thiết để làm rõ trách nhiệmcủa Vietinbank trong việc làm thất thoát số tiền 200 tỷ đồng các nhân viênNavibank không có lỗi. Việc xác định lỗi khiến tiền bị chuyển ra khỏi tài khoảnlà của Vietinbank đã vi phạm quyết định 1284/2002/QĐ-NHNN ngày 21/11/2002 củaNgân hàng Nhà nước. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT cũng như trongcáo trạng và kết luận điều tra của vụ án đều có mâu thuẫn về việc xác định sốtiền 200 tỷ đồng bị chiếm đoạt ở đâu do vậy cần triệu tập Điều tra viên và Kiểmsát viên tham gia phiên tòa.

Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân tốicao xác định hành vi của các bị cáo trong vụ án này là nguyên nhân dẫn đến việcHuyền Như chiếm đoạt số tiền 200 tỷ của Navibank tuy nhiên bị cáo Luật và các bịcáo khác chỉ là thực hiện các phương án để giúp tháo gỡ những khó khăn của Ngânhàng Navibank nên đã đi đến quyết định gửi tiền tại Ngân hàng lớn là Vietinbanknên rất an toàn. Các bị cáo và các nhân viên Navibank không liên hệ với HuyềnNhư. Ở đây tiền gửi đã vào tài khoản của các nhân viên Navibank tại Vietinbankan toàn. Việc làm thất thoát 200 tỷ là trách nhiệm của Vietinbank, không cóquan hệ giữa hành vi và hậu quả. Đại diện Ngân hàng Navibank nay là Ngân hàngTMCP Quốc Dân xác định chưa bao giờ đề nghị truy tố hình sự các bị cáo.

Bên cạnh đó với lãi suất ngoài được hiểu là khoản chămsóc khách hàng thì đây là những tài sản hình thành trong tương lai là đảm bảocho các khoản vay. Việc xảy ra trong thời điểm này, Ngân hàng gặp nhiều khókhăn, các nhân viên Navibank khi thực hiện việc này đều không có tư lợi riêng,họ là những cổ đông của Ngân hàng Navibank.

Cấu thành của tội này phải có thiệt hại, nhưng các bịcáo không được chứng minh về thiệt hại, các bị cáo đều cho rằng mình bị buộc tộilà do một bản án khác. Về khách thể của tội này thì các hành vi của các bị cáokhông xâm phạm vào việc quản lý kinh tế của Nhà nước, các bị cáo trong vụ ánnày đều công tác trong doanh nghiệp không thuộc quản lý của Nhà nước, không cóvốn Nhà nước; Hậu quả thiệt hại là một yếu tố quan trọng cấu thành của tội này,nhưng toàn bộ số hợp đồng tiền gửi từ Navibank và Vietinbank là có thật nên đềnghị xem xét trách nhiệm đối với việc tiền bị rút ra khỏi tài khoản. Đây khôngphải hợp đồng giả cách như bản án sơ thẩm nhận định, vì không có bằng chứng hợpđồng giả cách, đó chỉ là sự suy luận thiếu căn cứ trong 1 vụ án hình sự.

Hành vi của các bị cáo trong vụ án đều không có mốiquan hệ với hậu quả của việc Huyền Như chiếm đoạt số tiền 200 tỷ của Navibank tạiVietinbank. Dùng bản án số 02/2015/HSPT ngày 07/01/2015 của Tòa phúc thẩm Tòaán nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để xác định hậu quả của vụ ánnày, các bị cáo không được chứng minh hậu quả của vụ án. Các bị cáo không đượctham gia phiên tòa sơ và phúc thẩm xét xử đối với vụ án Huỳnh Thị Huyền Như đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bảnán phúc thẩm đã có một sai lầm nghiêm trọng là xử lý Huyền Như và kiến nghị xửlý các vi phạm Navibank và đây không phải là căn cứ để đưa ra xem xét truy cứutrách nhiệm của 10 bị cáo tại vụ án này.

Theo bản án sơ thẩm và phúc thẩm thì Huyền Như là ngườiđã lừa đảo Navibank mà cụ thể là 10 bị cáo ở đây, vậy họ cũng là nạn nhân. Vậy sau khi phân tích cả 10 bị cáo bị HuyềnNhư lừa thì họ không thể thấy trước được hậu quả, không có lỗi cố ý, đây là 1trong 4 yếu tố cấu thành của tội “Cố ýlàm trái…”. Nếu biết trước bị lừa họđã không thực hiện việc gửi tiền nên không thể gọi là cố ý.

Cáo trạng truy tố hành vi của các bị cáo vi phạm 04quy định, nhưng phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát chỉ nêu 03 quy định, vậyViện kiểm sát rút việc vi phạm quy định tại Quyết định 34/2010/QĐ-TGĐ haykhông? Đề nghị làm rõ việc thực hiện các lệnh chi vào các ngày 29-30/9/2011 vì bị án Huyền Như bị bắt vào ngày 28/9/2011.

Đối với 04 nhân viên Navibank họ đứng tên tài khoảnthì xác định họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng làkhông khách quan.

Huỳnh ThịHuyền Như không thể thực hiện việc chuyển tiền ra khỏi tài khoản của 14 nhânviên Navibank vì chuyển tiền ra khỏi tài khoản phải đảm bảo các thủ tục trình tựtheo quy định của Ngân hàng phải thông qua kiểm soát viên, giao dịch viên, kế toán,thủ quỹ? huyền Như làm sao giả được 14 chữ ký mà không ai biết? rút và chuyểntiền thế nào khi 1 mình bị án Huyền Như có thể thực hiện được? số tiền 200 tỷkhông bị chiếm đoạt hiện vẫn nằm trong tài khoản của các nhân viên Navibank mởtại Vietinbank và thực tế Navibank vẫn đang đòi Vietinbank trả lại số tiền nàychứ Navibank không yêu cầu các bị cáo bồi thường.

Các tài liệuchứng cứ cần được xác thực bởi cơ quan chuyên môn, sao kê có nhiều tiếng nướcngoài chưa được dịch ra tiếng Việt; hồ sơ vụ án không có các tài liệu chứng cứchứng minh Huyền Như chuyển tiền ra khỏi tài khoản của 14 nhân viên; hồ sơ mởtài khoản của 14 nhân viên mở tại Vietinbank không có chứng cứ chứng minh là giả,khi tiền chuyển vào Vietinbank thì khi đó Vietinbank có trách nhiệm phải quảnlý số dư tài khoản của khách hàng. Không có tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiềnthiệt hại đang ở đâu? Hiện do ai chiếm giữ thì làm sao kết tội các bị cáo?

Các khoảntiền mà Navibank gửi vào tài khoản các nhân viên Navibank tại Vietinbank là antoàn thông qua hệ thống liên ngân hàng, các Hợp đồng đã qua giám định là hợp đồngthật. Tiền gửi và giao dịch là an toàn. Huyền Như đã có sự cấu kết với các cánbộ Vietinbank để chuyển và rút tiền thì là lỗi ở phía Vietinbank. Các bị cáo vìlợi nhuận của ngân hàng chứ không vì mục đích cá nhân, lợi nhuận cá nhân như bảnán sơ thẩm nhận định. Các bị cáo không vi phạm quy định Nhà nước về quản lýkinh tế, vì thời điểm xảy ra vụ án thì không có quy định nào của Nhà nước để quảnlý các hành vi của các bị cáo. Nếu thực sự có chủ trương huy động vốn vượt tầmthì đề nghị truy tố những người có trách nhiệm tại Vietinbank.

Đối với cáchồ sơ gửi tiền tại Vietinbank chi nhánh Nhà Bè là Huỳnh Thị Huyền Như đã lừa VõAnh Tuấn để rút ra khỏi tài khoản và sau đó tất cả các hợp đồng này đã được tấttoán; Các bút lục trong hồ sơ vụ án thể hiện hành vi lừa đảo của Huỳnh Thị HuyềnNhư là lừa đảo ngân hàng Vietinbank việc Huyền Như gian dối chiếm đoạt trongtrường hợp này Ngân hàng phải có trách nhiệm trả lại cho khách hàng vì nhânviên của mình cố ý làm sai và việc gửi tiền của các nhân viên Navibank vàoVietinbank hoàn toàn hợp pháp; các hợp đồng gửi tiền vào Vietinbank chi nhánhNhà Bè đã được tất toán nên việc cáo trạng xác định tiền bị mất ở Nhà Bè làkhông chính xác; số tiền 500 tỷ được gửi vào Vietinbank chi nhánh Thành phố HồChí Minh là đúng quy định và việc mất tiền là lỗi của Ngân hàng Vietinbank nênNgân hàng Vietinbank phải có trách nhiệm hoàn trả; Cần xem xét tính hợp pháp củacác bản sao kê và dữ liệu được xác định tại công văn không số của Ngân hàngVietinbank cũng như số tiền còn trong tài khoản của nhân viên Navibank mở tạiNgân hàng Vietinbank.

Bộ luậthình sự 2015 không còn quy định về tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước vềquản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 và Nghị quyết41/2017/NQ-QH14 của quốc hội quy định về áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo.

Tội danh “Cốý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hâu quả nghiêm trọng”quy định tại Điều 165 Bộ luật hình sự 1999 trước đến nay được áp dụng cho khốidoanh nghiệp có vốn Nhà nước, trong khi Navibank là Ngân hàng tư nhân; Thờigian điều tra, khởi tố vụ án ngắn các bị cáo chưa được đối chất (Bị cáo Luậtyêu cầu được đối chất với Huyền Như tại phiên tòa sơ thẩm nhưng không được xemxét chấp nhận dù đây là quyền bị cáo và không xác minh số điện thoại Luật cóliên lạc với như bằng điện thoại không) và các tài liệu chứng cứ chưa được thuthập đầy đủ, nội dung Kết luận điều tra và cáo trạng còn nhiều mâu thuẫn mà cácluật sư đã phân tích; Các khiếu nại của các bị cáo chưa được Viện kiểm sát nhândân tối cao giải quyết theo quy định nên đây là vi phạm tố tụng cần hủy án bảođảm quyền lợi cho bị cáo chứ không có chuyện rút kinh nghiệm như bản án sơ thẩmnhận định, rút khinh nghiệm không có trong luật hinh sự, tố tụng hình sự

Các Hợp đồngđược ký với người có thẩm quyền của Vietinbank (đã được khoa học hình sự xác địnhlà thật); kể từ thời điểm tiền chuyển an toàn vào tài khoản tại Vietinbank thìcác giao dịch phát sinh có sự kiểm tra, giám sát của nhân viên Vietinbank,trách nhiệm quản lý là của Vietinbank. Navibank đã từng có văn bản khẳng định họkhông có văn bản yêu cầu xử lý hình sự đối với 10 bị cáo.

Các bị cáolà nhân viên Navibank không làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinhtế. Thời điểm 2010, 2011, không có quy định nghiệp vụ Ngân hàng nào cấm một Tổchức tín dụng cho cá nhân vay rồi gửi tiền tại Ngân hàng khác (bản chất các nhânviên Navibank khi tham gia giao dịch vay tiền của Navibank cũng chỉ là kháchhàng). Việc vi phạm Quyết định số 34/2010/QĐ-TGĐ chỉ là quy định nội bộ củaNavibank. Công văn 1132 hướng dẫn phương án vay vốn có thể ghi ngay trong giấyđề nghị vay vốn chứ không cần có phương án vay vốn riêng.

Bị cáo Luậtchỉ báo cáo lại thông tin mời chào huy động vốn với lãi suất cho Hội đồng Alcobiết. Việc thực hiện các hợp đồng cho vay và gửi tiền đều đúng quy định và thựctế các hợp đồng đã được tất toán; Trong vụ án này bị cáo Luật chưa bao giờ lợidụng chức vụ, quyền hạn của mình để đề xuất chủ trương hay yêu cầu nhân viên đứngtên vay và gửi vào Vietinbank. Việc gửi tiền tại Vietinbank CN Nhà Bè đã được tấttoán hoàn toàn cả gốc và lãi. Sau đó, Navibank tiếp tục có niềm tin vào Ngânhàng Viettinbank nên đã cho các nhân viên vay và gửi tiền vào Vietinbank CN HCMvới số tiền 500 tỷ, trong đó có 300 tỷ đã được tất toán cả gốc và lãi, còn lạisố tiền 200 tỷ vẫn còn tại Vietinbank CN HCM. Việc mất tiền là do chính HuyềnNhư thực hiện nhưng việc quản lý và để mất tiền lại là trách nhiệm củaVietinbank chi nhánh Hồ Chí Minh; Cáo trạng quy kết thất thoát 200 tỷ là chưachính xác, vì các sao kê của 04 nhân viên của Navibank thể hiện số tiền hơn 200tỷ.

Trước vàsau khi ký hợp đồng gửi tiền với Vietinbank chi nhánh Nhà Bè cũng nhưVietinbank chi nhánh Hồ Chí Minh, các cán bộ, nhân viên của phía ngân hàngNavibank chi nhánh Hồ Chí Minh, các cán bộ, nhân viên của phía ngân hàngNavibank không gặp Huyền Như cũng không thông qua người trung gian Võ Anh Tuấn– Phó giám đốc Vietinbank chi nhánh Nhà Bè để bàn bạc, thỏa thuận việc gửi tiềnhưởng lãi suất cao như Cáo trạng đã nêu. Không có tài liệu, chứng cứ, bằng chứngvề vấn đề này mà chỉ suy luận.

Việc HuyềnNhư ký giả chữ ký chủ tài khoản trên 47 hợp đồng để chiếm đoạt tiền là lỗi củaVietinbank chi nhánh Nhà Bè, Navibank chỉ có sơ suất không trực tiếp đến Vietinbankchi nhánh Nhà Bè để ký hợp đồng; tiền lãi 14% theo hợp đồng tiền gửi choVietinbank chi nhánh Nhà Bè chuyển khoản, tiền lãi chênh lệch do nhân viên củaVietinbank chi nhánh Nhà Bè chuyển cho phía cán bộ Navibank chứ không như Cáotrạng đã nêu và nhận định. Chính vì vậy, Cáo trạng và Kết luận điều tra xác địnhHuyền Như trả lãi chênh lệch, hoa hồng cho phía Navibank là không chính xác vàkhông có bằng chứng, gây hiểu nhầm, ảnh hưởng đến bản chất vụ việc; Giai đoạn gửitiền ở Vietinbank Nhà Bè đã tất toán xong, không gây thiệt hại nhưng Cáo trạngquy kết mất 200 tỷ ở Vietinbank chi nhánh Nhà Bè là chưa chính xác. Việc căn cứvào Bản án số 02/2015/HSPT kết luận Navibank bị mất – bị thiệt hại 200 tỷ làkhông chính xác vì theo các bản sao kê hiện trong tài khoản của một số nhânviên còn hơn 300.000.000 đồng. Bản án 02/2015/HSPT và quá trình điều tra chưachứng minh được mất tiền tại giai đoạn nào, mất bao nhiêu nhưng đã vội vàngtruy tố, xét xử.

Các bị cáochưa được đọc, ghi chép những tài liệu, chứng cứ để hiểu rõ và có cơ hội tự bảovệ mình tốt hơn; Chưa xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của 04 nhân viên gửitiền phía Navibank, của phía ngân nhàng Navibank, ngân hàng Vietinbank; Chưatriệu tập những đơn vị, cá nhân nhận tiền từ những lệnh chuyển tiền trái phépdo Huyền Như thực hiện để giải quyết quyền và nghĩa vụ của họ nhằm thu hồi sốtiền đã mất. Đồng thời, cần chứng minh rõ thiệt hại ở giai đoạn gửi tiền nào, sốtiền của 04 nhân viên Navibank đã mất cụ thể là bao nhiêu, phát sinh từ những lệnhchuyển nào, do ai thực hiện và xác định lại trách nhiệm thuộc về ai.

Tôi tin rằngkhônghề việc Huyền Như giả chữ ký và con dấu khi Navibank thực hiện giao dịch gửi tiềntại Vietinbank

Từ các hànhvi vi phạm của Huyền Như và các nhân viên Vietinbank đối với tiền gửi củaNavibank trong giao dịch rút tiền của khách hàng mà không có sự đồng ý của chủtài khoản là thuộc trách nhiệm của nhân viên Vietinbank nói riêng, vàVietinbank nói chung. Không thể quy kết về phía Navibank và các bị cáo gây hậuquả vì Huyền Như là người của pháp nhân Vietinbank.

Theo Điều 597 Bộ luật dân sự, “pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do ngườicủa mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao”. Huỳnh ThịHuyền Như và các cán bộ khác của Vietinbank đã chiếm đoạt tiền trên tài khoản củakhách hàng thì Vietinbank phải có trách nhiệm bồi thường cho khách hàng.

Cần điều tra làm rõ tiềnbị mất tại Vietinbank chi nhánh TP.HCM hay tại chi nhánh Nhà Bè?Cụ thể quabằng chứng, chứng cứ, sao kê, lệnh chuyển và rút tiền…

Thiệt hại 200 tỷ đồnghay 197,5 tỷ đồng? ở đâu?

Viện kiểmsát truy tố 8/11 thành viên thuộc Hội đồng ALCO và 8/9 thành viên của Hội đồngtín dụng của Navibank. Trong 10 bị cáo thì có 2 người không thuộc Hội đồngALCO, 2 người không thuộc Hội đồng tín dụng. Tuy nhiên tất cả đều bị truy tố,xét xử với cùng một tội danh, cùng 1 hành vi vi phạm mà không có chứng cứ chứngminh, là đã vi phạm nghiêm trọng BLTTHS 2015. thời điểm họp Hội đồng ALCO làtrước hay sau khi có Thông tư 02/2011 mà Viện kiểm sát đang cho là các bị cáovi phạm? Tất cả các quy kết đều chỉ thuần tuý dựa trên nguyên tắc “suy đoán buộc tội” mà Viện kiểm sát đangthể hiện xuyên suốt Cáo trạng. Trong khi không có nguyên tắcsuy đoán buộc tội mà chỉ có nguyên tắc suy đoán có tội.

Các bịcáo khác đều không ai quen biết với Huỳnh Thị Huyền Như, không ai nhận bất kỳ lợiích gì từ Huỳnh Thị Huyền Như cũng như từ việc cho vay/gửi tiền. Tại phiên toà, Huỳnh Thị Huyền Như cũngxác nhận không quen biết với bất kỳ ai ở Navibank. Như vậy Cáo trạng cho rằngviệc Huỳnh Thị Huyền Như thông qua các bước trung gian để lừa, dẫn dụ các bịcáo là suy luận sai lầm theo hướng buộc tội và mâu thuẫn vớilời khai Huyền Như. Việc dựa trên lời khai của cá nhân Huỳnh Thị HuyềnNhư, thừa nhận việc lập các chứng từ, giấy tờ giả để rút tiền từ tài khoản hợppháp mở tại Vietinbank mà không qua các bước đối chiếu, kiểm chứng lại, làm căncứ kết luận Huỳnh Thị Huyền Như đã lừa lấy tiền của Navibank, từ đó suy luậntheo hướng buộc tội cho rằng các bị cáo đã gây ra hậu quả làm mất 200 tỉ và kếttội/kết án các bị cáo là không đúng. Việc chỉ dựa vào lời nhận tội của Huỳnh ThịHuyền Như mà không qua các bước kiểm tra, đối chiếu thực tế và với các chứng cứkhác, là vi phạm nghiêm trọng khoản 2 Điều 98 BLTTHS 2015 “Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phùhợp với những chứng cứ khác của vụ án”.

-Các khoản tiền có trong8 thẻ tiết kiệm của Lê Thị Thu Hương và Huỳnh Linh Chi đã bị Vietinbank rút ra57,5 tỉ đồng sau khi vụ án đã bị khởi tố, Huỳnh Thị Huyền Như đã bị tạmgiam, nhưng cũng không được Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá xem ai đã chỉđạo rút tiền chiếm đoạt khoản tiền này. Việc đại diện Viện kiểm sát giữ quyềncông tố tại tòa trả lời (trang 46 Bản án) “khiđó Ngân hàng Vietinbank thấy các khoản vay thế chấp đó không an toàn nên đã tựđộng tất toán các hợp đồng vay thế chấp bằng các sổ tiết kiệm này” mà khônglý giải tại sao, ai đã chỉ đạo việc tấttoán khoản vay giả bằng cách lấy tiền từ các sổ tiết kiệm thật liên quan đến vụán sau khi vụ án đã được khởi tố, căn cứ nào để đại diện Viện kiểm sát trảlời thay cho Vietinbank,… có điều gì mâu thuẫn ở đây?

-Viện kiểm sát khi tiếnhành tố tụng chỉ suy diễn theo hướng buộc tội mà không đưa ra được những chứngcứ chứng minh tội phạm nào, các quan điểm của VKS trong Cáo trạng 80 hoàn toànmâu thuẫn với KLĐT số 59 và số 68 ở đối tượng phạm tội, hành vi phạm tội, thờigian, địa điểm phạm tội,… và trái ngược cả Cáo trạng số 01trước khi vụ án đượctách ra khỏi vụ án Huyền Như giai đoạn 2.

-

-Hộiđồng xét xử sơ thẩm đã kiến nghị Cơ quan CSĐT Bộ Công an làm rõ trách nhiệmcủa các giao dịch viên, kiểm soát viên của Vietinbank thực hiện các Lệnh chi giảmạo. Hội đồng xét xử vẫn tuyên án là chưaxem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện các tình tiết của vụ án, việc này có thểlàm rõ ai là người thực sự gây hậu quả nghiêm trọng làm mất 200 tỷ (hoặc 197,5tỉ đồng) của Navibank.

-Việc đại diện Viện kiểmsát cũng như HĐXX chỉ căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tramà không thu thập các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cũng như không xem xét lờikhai của các bị cáo tại diễn biến phiên tòa, để kết luận rằng “Hội đồng ALCO có chủ trương” mặc dùkhông có biên bản họp Hội đồng ALCO về chủ trương này là vi phạm khoản 2 Điều98 BLTTHS 2015.

II/. QUAN ĐIỂM CỦA LUẬT SƯ ĐỐI VỚI PHIÊN TÒA SƠ THẨM.

1.Tướcbỏ quyền bào chữa đối với cáo buộc “gây hậu quả nghiêm trọng”.

Các bị cáo khôngđược tham gia tố tụng với bất kỳ tư cách gì trong vụ án Huyền Như giai đoạn 1,nhưng các “Cơ quan chức năng” lại dùngkết quả của các bản án đó để làm căn cứ buộc tội các bị cáo đã “gây hậu quảnghiêm trọng”, và cũng dựa vào lý do các bản án đã có hiệu lực pháp luật để tướcbỏ quyền bào chữa của các bị cáo đối với việc có gây ra hậu quả hay không, vốnlà yếu tố cấu thành quyết định nên tội “Cốý làm trái các quy định của Nhànước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. Điều này vi phạmnghiêm trọng Điều 16 BLTTHS 2015 về bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện đầyđủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định pháp luật.

2.Vi phạm quyền khiếu nại quy định tại Điều472, 473 BLTTHS 2015:

Khi nhận các bản Cáo trạng số 01 và số80, các bị cáo đều có khiếu nại đối với cả hai bản cáo trạng trên, nhưng cho đếnnay vẫn chưa được bất kỳ quyết định giải quyết nào. Đặc biệt, trong cáo trạng số80, đại diện VKS đã phải thừa nhận là “quên” giải quyết khiếu nại và tuyên bố sẽgiải quyết ngay tại phiên tòa, nhưng cho đến bây giờ các bị cáo vẫn chưa nhậnđược bất kỳ giải quyết khiếu nại nào.

Các KLĐT và Cáo trạng cũng đều xác địnhtất cả các bị cáo đều khiếu nại kêu oan, luật sư cũng gửi kiến nghị. Tuy vậy,Cơ quan CSĐT Bộ Công an và VKSNDTC chỉ nêu trong bản KLĐT và Cáo trạng mà khôngtrả lời cho người khiếu nại bằng văn bản là trái vớiđiểm d khoản 1 Điều 472 và điểm a khoản 2 Điều 473 BLTTHS 2015. Tại phiên tòa,các luật sư đã yêu cầu nhưng vẫn không được giải quyết.

Luật tố tụng không có điều khoản nàoquy định rút kinh nghiệm khi vi phạm tố tụng mà chỉ có quy định trả hồ sơ, hủybán án để trả hồ sơ, khắc phục các sai sót vi phạm tố tụng, vi phạm quyền lợi bịcáo.

Bị cáo Luậtyêu cầu được đối chất tại phiên tòa sơ thẩm với Huyền Như nhưng không được Tòasơ thẩm chấp nhận.

Bị cáo Luậtyêu cầu được trích xuất các cuộc gọi giữa Huyền Như và bị cáo Luật để làm rõ chứngminh bị cáo Luật có liên hệ với Huyền Như không vì cơ quan tố tụng chỉ dựa vàolời khai và suy đoán nhưng bị từ chối ngay từ giai đoạn điều tra và kể cả phiêntòa phúc thẩm cũng không chấp nhận. Rõ ràng đây là hành vi vi phạm tố tụng.

3.Vi phạmnguyên tắc bổ sung tài liệu, chứng cứ:

Hai bản án số 46/2014/HSST và bản án số02/2015/HSPT khó có thể xem là căn cứ để buộc tội các bị cáo. Theo Điều 87BLTTHS, bản án không thuộc loại nguồn chứng cứ, trừ khi muốn xếp vào loại cáctài liệu, đồ vật khác theo khoản 1, điểm g, trong khi biên bản trong hoạt độngkhởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được coi là nguồn chứng cứ. Điều104 BLTTHS quy định về tài liệu, đồ vật khác, khái niệm bản án không thuộc vàomục này.

Bản án hình sựsơ thẩm số 46/2014/HSST và Bản án hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT của vụ ánHuỳnh Thị Huyền Như (giai đoạn 1) là 02 tài liệu được các cơ quan tiến hành tốtụng xem là chứng cứ quan trọng để cáo buộc các bị cáo tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quảnlý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra,truy tố, xét xử, 02 bản án này không hề có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo đềukhông hề biết gì đến 02 bản án này. Điều này đã vi phạm nghiêm trọng Điều 26BLTTHS, theo đó quy định “Tài liệu, chứngcứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủvà hợp pháp”.

Phát hiện ra sai sót này, tạiphiên tòa sơ thẩm khai mạc ngày 28/02/2018 trong quá trình xét hỏi, ngày07/3/2018 HĐXX đã tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu VKSNDTC bổ sungtài liệu, chứng cứ, bao gồm: Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2014/HSST và Bảnán hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT và sao kê tài khoản của 04 nhân viênNavibank.

Theo BLTTHS2015, không có quy định tạm ngưng phiên tòa để bổ sung tài liệu, tại khoản 1 Điều284 quy định: “Khi xét thấy cần bổ sung tài liệu, chứng cứcần thiết cho việc giải quyết vụ án mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sungthì Thẩm phán chủ toạ phiên tòa yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung”.

ĐOÀN LUẬT SƯ TP.HCM

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Quận 6, TP.HCM

Chi nhánh:5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai

Điện thoại: 028.38779958; Fax: 028.38779958

Trưởng Văn phòng: LS Trần Minh Hùng

www.luatsugiadinh.net.vn