Luật sư tranh tụng tranh chấp tài sản sau khi ly hôn thường gặp
Luật sư tranh tụng tranh chấp tài sản sau khi ly hôn thường gặp
Luật sư tranh tụng tranh chấp tài sản sau khi ly hôn thường gặp
1. Tranh chấp xác định tài sản riêng của vợ hoặc chồng:
Đối với những tài sản mà một bên cho rằng đó là tài sản riêng của bên nào thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Theo quy định tại khoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì: “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.
Như vậy đối với những tranh chấp xác định tài sản riêng nguyên đơn trong vụ án cần phải đưa các chứng cứ chứng minh rằng tài sản đó thuộc sở hữu riêng hợp pháp của mình, nếu không chứng minh được thì đương nhiên đó là tài sản chung và chia theo nguyên tắc chung.
2. Tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng:
Sau khi thực hiện xong thủ tục ly hôn không yêu cầu Tòa chia tài sản. sau đó các bên yêu cầu Tòa giải quyết chia tài sản chung thì Theo nguyên tắc tài sản của vợ chồng sẽ được chia đôi, tuy nhiên pháp luật cũng ghi nhận công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo dựng tài sản cũng như căn cứ vào lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền và nghĩa vụ vợ chồng mà phân chia tài sản vì vậy các bên phải có nghĩa vụ chứng minh được công sức tạo dựng tài sản đến đâu, chứng minh lỗi của bên vi phạm như thế nào, để dựa vào những cơ sở đó tòa án có sự phân chia công bằng, hợp lý luat su ly hon tphcm
1.Giải quyết tranh chấp công ty chung khi ly hôn
Tranh chấp về công ty chung khi haivợ chồng ly hôn, thông thường có hai dạng như sau:
• Thứ nhất, tranh chấp về quyền quảnlý, điều hành công ty, tranh chấp về cổ phần, cổ phiếu chung, quyền biểu quyếttrong công ty.
• Thứ hai, tranh chấp về quyền tàisản, nghĩa vụ của công ty, tranh chấp về phần lợi tức phát sinh trong quá trìnhkinh doanh, về việc chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ của công ty theo phần vốnđã góp vào công ty.
Theo quy định tại Điều 64 Luật HNGĐ2014 thì vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sảnchung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trịtài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy địnhkhác. Theo đó, trong những trường hợp trên, người đang đứng tên kinh doanh, gópvốn có quyền nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tàisản mà họ được hưởng. Đối với việc hai vợ chồng cùng là cổ đông, sở hữu phầnvốn góp hoặc cổ phần trong một doanh nghiệp thì tài sản này là tài sản chung.Tuy vậy, việc chia tài sản là phần vốn góp, cổ phần phải áp dụng cả Luật HNGĐvà Luật Doanh nghiệp.
Theo quy định tại Điều 59 Luật HNGĐ2014 thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tốsau đây:
• Hoàn cảnh của gia đình và của vợ,chồng;
• Công sức đóng góp của vợ, chồngvào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ,chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
• Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗibên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tụclao động tạo thu nhập;
• Lỗi của mỗi bên trong vi phạmquyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Công sức đóng góp của vợ, chồngtrong quá trình thành lập, xây dựng và phát triển công ty chung, cũng như bảovệ cho lợi ích chính đáng của các bên trong quản lý, kiểm soát, phát triển côngty có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt đối với tiềm năng của công ty, lợi íchcho xã hội, lợi ích của người lao động. Các quy định về công ty được điều chỉnhbởi Luật Doanh nghiệp hiện hành. Như vậy, các cổ đông đều có quyền và nghĩa vụtương ứng với số cổ phần mình sở hữu. Phải nói thêm, cổ phần trong doanh nghiệpkhông chỉ có giá trị là tài sản hữu hình mà còn có giá trị đối với phần tài sảnvô hình (thương hiệu, lợi thế thương mại…). Luật Doanh nghiệp không có quy địnhvề trường hợp bị thôi, bị tước tư cách cổ đông do phán quyết chia tài sản củavợ chồng trong vụ án hôn nhân gia đình. Việc chuyển dịch cổ phần của người nàysang cho người kia chỉ được thực hiện thông qua tặng cho, chuyển nhượng, thừakế hoặc quyền mua cổ phần phát hành.
Thủ tục tố tụng và quy trình giảiquyết tranh chấp công ty chung khi ly hôn?
Nhà nước và xã hội khuyến khích việchòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiệntheo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầuly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sựtheo quy định tại Chương XIII của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015).Trong trường hợp không thể hòa giải được và hai bên vẫn kiên quyết yêu cầu Tòaán giải quyết thì họ có quyền nộp Đơn khởi kiện ly hôn cùng với yêu cầu về vấnđề phân chia công ty chung. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 1Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015, thì Tòa áncó thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi hai vợ chồng cư trú.Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 2 Điều 37 BLTTDS 2015 thì Tòa án nhân dân cấptỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộcthẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện mà Tòa án nhân dân cấp tỉnhtự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòaán nhân dân cấp huyện.
Khi có Đơn khởi kiện về tranh chấpcông ty chung khi ly hôn, bên nộp đơn cần lưu ý đến vấn đề nộp tiền Tạm ứng ánphí để đáp ứng điều kiện Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án. Theo quy định tạiKhoản 1 Điều 146 BLTTDS 2015, thì nguyên đơn (người khởi kiện) là người cónghĩa vụ nộp tiền Tạm ứng án phí. Tranh chấp công ty chung là tranh chấp tàisản có giá trị thành tiền được, vì vậy cần tạm tính giá trị yêu cầu chia để tạmtính án phí phải nộp cho Tòa án (tiền Tạm ứng án phí). Theo quy định tại Khoản2 Điều 7 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì mức tạm ứng án phí dân sự sơ thẩmtrong vụ án dân sự không có giá ngạch bằng mức án phí dân sự sơ thẩm không cógiá ngạch. Mức tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án dân sự có giá ngạchbằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch mà Tòa án dự tính theo giá trịtài sản có tranh chấp do đương sự yêu cầu giải quyết nhưng tối thiểu không thấphơn mức án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án dân sự không có giá ngạch.
2.Những dạng tranh chấp tài sản sau khi ly hôn thường gặp
1. Tranh chấp xác định tài sản riêngcủa vợ hoặc chồng:
Đối với những tài sản mà một bên chorằng đó là tài sản riêng của bên nào thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Theo quyđịnh tại khoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì: “Trong trường hợpkhông có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tàisản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.
Như vậy đối với những tranh chấp xácđịnh tài sản riêng nguyên đơn trong vụ án cần phải đưa các chứng cứ chứng minhrằng tài sản đó thuộc sở hữu riêng hợp pháp của mình, nếu không chứng minh đượcthì đương nhiên đó là tài sản chung và chia theo nguyên tắc chung.
2. Tranh chấp chia tài sản chung vợchồng:
Sau khi thực hiện xong thủ tục lyhôn không yêu cầu Tòa chia tài sản. sau đó các bên yêu cầu Tòa giải quyết chiatài sản chung thì Theo nguyên tắc tài sản của vợ chồng sẽ được chia đôi, tuynhiên pháp luật cũng ghi nhận công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo dựngtài sản cũng như căn cứ vào lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền và nghĩavụ vợ chồng mà phân chia tài sản vì vậy các bên phải có nghĩa vụ chứng minhđược công sức tạo dựng tài sản đến đâu, chứng minh lỗi của bên vi phạm như thếnào, để dựa vào những cơ sở đó tòa án có sự phân chia công bằng, hợp lý luat suly hon tphcm
3. Xác định khi tài sản chung vợchồng chỉ đứng tên một người:
Luật Hôn nhân và gia đình có quyđịnh rõ về tài sản chung của vợ chồng, theo đó gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra,thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp phápkhác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kếchung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận làtài sản chung.
Luật cũng quy định “Trong trường hợptài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng kýquyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợchồng”.
Như vậy, cả trong trường hợp nếu chỉđứng tên một người mà không có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng thì theoluật vẫn bị coi là tài sản chung. Thực tế, có rất nhiều trường hợp vợ/chồngđược tặng, cho hoặc thừa kế riêng tài sản và họ không nhập tài sản này vào khốitài sản chung, nhưng vì họ không thể chứng minh được việc này thì đó vẫn là tàisản chung và phải được đem chia nếu có tranh chấp.
“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồngluật sư đất đai
1. Tài sản chung của vợ chồng gồmtài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinhdoanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp kháctrong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 củaLuật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung vàtài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng cóđược sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặcchồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịchbằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộcsở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiệnnghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứđể chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗibên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”
Tài sản chung của vợ chồng mà mộtbên tự xác lập giao dịch thì sẽ bị vô hiệu.
Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa vợ, chồng và gia đình; quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba; sự antoàn trong giao dịch khi xác lập, thực hiện các giao dịch đối với tài sản chungcủa vợ chồng mà theo quy định pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụngnhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ ghitên vợ hoặc chồng, dự thảo Luật Hôn nhân gia đình sửa đổi đã bổ sung quy địnhvề việc đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp này.
Theo đó, việc đại diện giữa vợ vàchồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sảnchung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sảnchỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định về căn cứ xác lập đạidiện giữa vợ và chồng, đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng cótên trên các giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tàisản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái vớiquy định của
Hôn nhân gia đình về đại diện giữavợ và chồng thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp có đủ căn cứ xác địnhngười thứ ba ngay tình theo quy định của Bộ luật dân sự Tuy nhiên, trong khichờ sửa đổi Luật Hôn nhân gia đình thì để tránh những rắc rối phát sinh trongphân chia tài sản vợ, chồng thì cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dânhiểu việc đứng tên cả hai người là yêu cầu chính đáng và do luật định. Nếu tàisản trong hôn nhân chỉ đứng tên một người thì không những khó khăn trong việcgiải quyết tranh chấp mà trong cả các giao dịch thường ngày (như chuyển nhượng,góp vốn, thế chấp, tặng cho…). Đặc biệt, các cơ quan chức năng khi làm các thủtục liên quan (nhất là chuyển nhượng) cần kiểm soát, xác minh chặt để tránhviệc làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người còn lại có quyền sở hữu/sử dụngchung.
3.Hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng thì xử lý như thế nào?
Câu hỏi: Chào luật sư Gia Đình, tôivà chồng tôi kết hôn và sống với nhau 11 năm có 2 con (1 đứa 10 tuổi, 1 đứa 6tuổi) thì ly hôn. Hiện tại có quyết định của tòa án đã 2 năm là chông tôi phảicó nghĩa vụ cấp dưỡng cho hai con tôi mỗi tháng 1.114.000 đồng vì tôi là ngườiđược trực tiếp nuôi con. Nhưng đến nay đã 2 năm anh ta chưa một lần cấp dưỡngvì vậy cứ mỗi 6 tháng thi hành án kêu tới ký hoãn thi hành án lí do: tôi khôngcung cấp thông tin gì của anh ta (hiện tại anh ta sống với cha mẹ anh có tàisản và chỉ có mình anh). Như vậy lá như thế nào, trong khi anh ta không chịu đilàm việc để cấp dưỡng cho con mà còn chứng giấy không khả năng cấp dưỡng chocon với lý do không có việc làm nhưng thực chất anh rất khỏe mạnh .Anh ta làmvậy là có mang tội trốn tránh không? Tôi phải làm gì đây? Có luật pháp nào buộcanh phải cấp dưỡng cho hai con tôi không và như vậy trong vòng hai năm tôikhông cung cấp thông tin của anh cho thi hành án thì bản án quyết định của tòaán có còn hiệu lực hay không? Kính mong các luật sư trả lời giúp tôi. Xin chânthành cảm ơn!
Luật sư Gia Đình trả lời tư vấn:
Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi đề nghị tưvấn đến Công ty, trường hợp của chị chúng tôi tư vấn như sau:
Thứ nhất, về lý do hoãn thi hành án
Căn cứ Khoản 1 Điều 48, Luật thihành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung 2014 quy định về hoãn thi hành án nhưsau:
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành ándân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án bị ốmnặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; chưa xác định được địachỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thihành án không thể tự mình thực hiện được nghĩa vụ theo bản án, quyết định;
b) Người được thi hành án đồng ý chongười phải thi hành án hoãn thi hành án. Việc đồng ý hoãn phải lập thành vănbản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của các bên. Trong thời gian hoãn thi hànhán do có sự đồng ý của người được thi hành án thì người phải thi hành án khôngphải chịu lãi suất chậm thi hành án;
c) Người phải thi hành các khoản nộpngân sách nhà nước không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản đókhông đủ chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc loạikhông được kê biên;
d) Tài sản kê biên có tranh chấp đãđược Tòa án thụ lý để giải quyết;
đ) Việc thi hành án đang trong thờihạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghịcủa cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 179của Luật này.
Như vậy, căn cứ hoãn thi hánh án đưara là chưa hợp lý. Chị có quyền yêu cầu phía cơ quan thi hành án giải thích rõhơn về việc này.
Thứ hai, việc chồng chị trốn tránhnghĩa vụ cấp dưỡng
Mức và phương thức cấp dưỡng đã đượcTòa án giải quyết và có bản án bắt buộc thi hành. Việc anh ta là người có sứckhỏe và có tài sản nhưng xin giấy chứng nhận không có khả năng cấp dưỡng thểhiện anh ta muốn trốn tránh nghĩa vụ này. Những trường hợp này có thể bị xử lýhành chính, theo mức độ nghiêm trọng mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
- Xử lý hành chính: Trường hợp cóbản án của tòa án mà người trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng không thực hiện theoquyết định của bản án thì theo quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 52 Nghị định110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dânsự thì hành vi này có thể bị phạt từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.
Điều 52. Hành vi vi phạm quy địnhtrong hoạt động thi hành án dân sự
3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Không thực hiện công việc phảilàm, không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định;
- Xử lý hình sự: Hành vi trốn tránhnghĩa vụ cấp dưỡng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội từ chối hoặctrốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Bộ Luật hình sự.
"Tội từ chối hoặc trốn tránhnghĩa vụ cấp dưỡng
Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng vàcó khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩavụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩavụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vinày mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai nămhoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."
Việc từ chối hoặc trốn tránh nghĩavụ cấp dưỡng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người việc từ chối hoặctrốn tránh gây hậu quả nghiêm trọng như làm cho người được cấp dưỡng lâm vàotình trạng ốm đau, bệnh tật, nguy hiểm đến sức khỏa tính mạng…trường hợp đã bịxử lý hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì cũng có thể bị truy cứutrách nhiệm hình sự.
Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV,THVL1, ANTV, SCTV1...
Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều độingũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độcao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năngtư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghềnghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luậtsư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân,tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khókhăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thùhằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, cótài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh vàchấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sốngcủa mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui củaluật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại côngbằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.
Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng vănphòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinhnghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiềunăm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hìnhuy tín như: Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam(VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tưvấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV GiaoThông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình QuốcHội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và phápluật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trêncả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo chonhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật vớitrường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luậtcho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn chonhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin,người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank,Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụGiết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái...và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính,doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tíchcực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sưchúng tôi.
Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lýcho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.
Trân trọng cảm ơn!.
