Luật sư tư vấn chia tài sản khi vợ/chồng giấu tài sản chung khi ly hôn
Luật sư tư vấn chia tài sản khi vợ/chồng giấu tài sản chung khi ly hôn
Luật sư tư vấn chia tài sản khi vợ/chồng giấu tài sản chung khi ly hôn
òa án yêu cầu bạn phải cung cấp chứng cứ chứng minh là đúng với quy định của pháp luật hiện hành vì theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì: Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây:
a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.
1. Vợ giấu chồng rút tiền tiết kiệm chung khily hôn xử lý thế nào ?
Chào luật sư, Xin hỏiquý luật sư, tôi là sỹ quan trong quân đội được hơn 6 năm. Thu nhập một thángkhoảng 7,5 triệu. Tôi kết hôn với vợ đã được hơn 3 năm. Trước khi kết hôn tôicó tích cóp được số tiền là 80 triệu đồng. Sau khi kết hôn tôi bàn giao toàn bộsố tiền tích cóp được cho vợ tôi giữ, từ ngày kết hôn với nhau đến nay vợ tôivẫn chưa tìm được việc làm ổn định. Qua quá trình làm ăn đến nay, chúng tôi đãtích cóp được khoảng hai trăm triệu. Số tiền ấy do vợ tôi đứng tên gửi tiếtkiệm, nhưng gần đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, vì vậy chúng tôi thuận tình lyhôn. Nhưng cách đây mấy ngày vợ tôi che giấu tôi rút toàn bộ tiền tiết kiệm ởngân hàng mà tôi không biết.
Luật sư cho tôi hỏinếu ra toà giải quyết ly hôn thì phần tài sản đó được giải quyết như thế nào ạ?
Tôi xin chân thành cảmơn !
Chào bạn, cảm ơn bạnđã gửi nội dung câu hỏi cần được tư vấn. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xinđược trả lời như sau:
Điều 33 luật Hôn nhânvà Gia đình 2014 quy định về Tài sản chung của vợ chồng, như sau:
“1. Tài sản chung củavợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sảnxuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợppháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng chochung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung…”
Khoản 1 Điều 40 luậtHôn nhân và Gia đình 2014 quy định về trường hợp chia tài sản chung của vợchồng trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, trừ trường hợp đã chia tài sản chungtrong thời kỳ hôn nhân hoặc vợ,chồng được tặng cho riêng, thừa kế riêng, thìtài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân bao gồm cả hoa lợi, lợi tức phátsinh từ tài sản riêng đều được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Thờiđiểm bắt đầu của thời kỳ hôn nhân là thời điểm đăng ký kết hôn.
Thứ nhất, Theo thôngtin bạn cung cấp, thì khoản tiền 200 triệu là khoản tiền mà cả 2 vợ chồng bạntích góp được, kể cả khoản tiền 80 triệu trước khi kết hôn mà bạn tự nguyệnđóng góp vào khối tài sản chung. Nên đây là tài sản được hình thành trong thờikỳ hôn nhân, vì vậy thuộc sở hữu chung của cả 2 vợ chồng. Về số tiền lãi gửi tiếtkiệm mà vợ chồng bạn nhận được hàng tháng cũng được xác định là tài sản chungcủa vợ chồng.
Thứ hai, mặc dù ngườivợ là người đứng tên trong sổ tiết kiệm, nhưng phần tài sản này là tài sảnchung của vợ chồng. Bởi vậy, người vợ không có quyền với toàn bộ phần tài sảnnày. Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Nguyên tắc giảiquyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Theo đó, nếu vợ chồng không có thỏathuận khác thì về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ được chiađôi.
Trường hợp vợ bạn tự ýrút toàn bộ tiền tiết kiệm ở ngân hàng mà không hỏi ý kiến bạn là sai. Bạn cóthể yêu cầu Tòa án giải quyết để yêu cầu vợ của bạn gửi lại 1 nửa số tài sảntiết kiệm vợ đã rút cho bạn hoặc yêu cầu phần nhiều hơn nếu bạn chứng minh đượccông sức đóng góp của bạn vào khối tài sản chung này nhiều hơn vợ theo quy địnhtại điểm b, khoản 2 Điều 59 luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
2. Vợ giấu tài sản chung khi ly hôn thì phảilàm như thế nào?
Tôi kết hôn hồi đầunăm 2014, cuộc sống hôn nhân cũng diễn ra êm đềm, gia đình tôi có một con trai.Từ đó tới nay, mọi tài sản của gia đình tôi đều giao cho vợ quản lý. Tiềnlương, thưởng tôi cũng đưa vợ giữ rồi bỏ vào sổ tiết kiệm chung của vợ chồng.Tới gần đây, tôi phát hiện vợ giấu tôi lấy tiền đem về cho anh em nhà vợ, tôicó hỏi thì vợ cứ chối phăn đi, đã vậy còn không ngớt lời chửi mắng tôi ích kỷnày nọ. Nhiều lần như vậy, tôi không thể chấp nhận nổi nên đã quyết định ly hônvới cô ấy. Khi ra tòa ly hôn, cô ấy chỉ khai rằng tài sản chung có nhà cửa, xevà một ít tiền trong ngân hàng. Nhưng tôi nắm rất rõ, tài sản chung mà vợ chồngtôi tạo lập có một khoản tiền rất lớn trong ngân hàng nhưng cô ấy cố tình giấuđi, chỉ trình ra có một phần nhỏ trong số đó. Tôi yêu cầu tòa điều tra, xácminh lại nhưng tòa lại nói rằng muốn vậy thì chính tôi phải trình ra chứng cứchứng minh chứ tòa không có nghĩa vụ xác minh lại nữa. Xin hỏi, tòa nói thế cóđúng không? Trường hợp của tôi phải giải quyết thế nào?
Luật sư Gia Đình tưvấn:
Tòa án yêu cầu bạnphải cung cấp chứng cứ chứng minh là đúng với quy định của pháp luật hiện hànhvì theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì: Đương sự có yêu cầu Tòa án bảovệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòaán tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp,trừ các trường hợp sau đây:
a) Người tiêu dùngkhởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hànghóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụchứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệquyền lợi người tiêu dùng;
b) Đương sự là ngườilao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tàiliệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao độngquản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộptài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.
Người lao động khởikiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụnglao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặctrường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quyđịnh của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụnglao động.
Như vậy, Bộ luật Tốtụng dân sự 2015 quy định rất rõ ràng nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứtrong các tranh chấp dân sự là nghĩa vụ của đương sự chứ không phải là nghĩa vụcủa tòa án. Tòa án chỉ có thể thu thập chứng cứ khi các chứng cứ có trong hồ sơvụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết trong khi đương sự không thể tự mìnhthu thập được.
Trong trường hợp trên,để được chia tài sản thì anh phải chứng minh là vợ mình là người đã cất giữhoặc gửi giữ tiền vàng của vợ chồng. Tài sản ấy là bao nhiêu, ở đâu, có biênnhận, giấy thỏa thuận gì không? Có ai làm chứng không? Nếu gửi ở ngân hàng thìbằng chứng là sổ tiết kiệm, thẻ tín dụng hoặc mã số các loại sổ hoặc thẻ đó...Nếu đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu thì bằng chứng là bản sao chụp trái phiếu,cổ phiếu hoặc các chứng từ, biên nhận có liên quan...
3. Giấu chồng mảnh đất cha mẹ cho, khi ly hôncó phải chia tài sản?
Trong thời kỳ hônnhân, người vợ được bố mẹ đẻ tặng cho một mảnh đất. Nếu chị giấu không chochồng biết thì khi ly hôn, mảnh đất đó có được tính là tài sản riêng của ngườivợ hay không?
2 năm sau khi kết hôn,chị Ngân được bố mẹ đẻ cho một mảnh đất nhưng giữ bí mật không nói cho chồngbiết. Nay do vợ chồng mâu thuẫn nên chị Ngân có ý định ly hôn. Khi kê khai tàisản để làm thủ tục trước tòa, chồng chị mới biết đến sự tồn tại của mảnh đấtnày. Vậy bất động sản được cho, tặng trong thời kỳ hôn nhân đó có được coi làtài sản chung của vợ chồng hay không?
Trường hợp 1: Toàn bộgiấy tờ về việc tặng cho đất đều ghi rõ chỉ tặng riêng cho vợ hoặc chỉ tặngriêng cho chồng
Điều 43 Luật Hôn nhânvà Gia đình 2014 quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗingười có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêngtrong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tạicác điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ,chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ,chồng”.
Như vậy, nếu giấy tờvề việc tặng cho đất ghi rõ chỉ tặng riêng chị Ngân, thì mảnh đất đó là tài sảnriêng của chị. Chồng chị sẽ không được hưởng bất cứ quyền lợi gì từ mảnh đấtnày và chị Ngân là người toàn quyền sử dụng, định đoạt tài sản đó.
Trường hợp 2: Toàn bộgiấy tờ về việc tặng đất không ghi rõ là tặng riêng hay tặng chung cho cả vợ vàchồng
Nếu giấy tờ tặng chođất không chỉ đích danh người được tặng là chị Ngân, thì mảnh đất này sẽ đượctính là tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, khi ly hôn, tài sảnchung này sẽ được ưu tiên phân chia theo nguyên tắc tự thỏa thuận. Trong trườnghợp vợ chồng không đạt được thỏa thuận thì sẽ áp dụng cách chia theo quy địnhtại Điều 62 Luật Hôn nhân gia đình về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khily hôn.
Đối với đất nôngnghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản:
• Nếu cả hai bên đềucó nhu cầu và điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận củahai bên. Nếu không thỏa thuận được thì Tòa phân chia dựa trên hoàn cảnh giađình; công sức đóng góp; lỗi của các bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợchồng...
• Trường hợp chỉ mộtbên có nhu cầu và điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sửdụng, nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họđược hưởng.
• Trường hợp vợ chồngcó quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụngđất của vợ chồng được tách ra và chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định củaTòa án.
Đối với đất nôngnghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở:
Phân chia dựa trênhoàn cảnh gia đình,công sức đóng góp, lỗi của các bên trong vi phạm quyền,nghĩa vụ của vợ chồng,…
4. Giải quyết các tình huống về chia tài sảnchung khi ly hôn
Tóm tắt câu hỏi:
Xin hỏi luật sư, chịgái tôi bị chồng làm đơn ly hôn ra Tòa. Tòa án thành phố đã có thông báo thụ lýhồ sơ giải quyết ly hôn. Trong phiên hòa giải, chồng chị tôi muốn thỏa thuậnchia tài sản với chị tôi nhưng về nhà anh ta không hợp tác, chỉ chia bằng miệngmà không tiến hành làm các thủ tục sang tên.
Tài sản chung của vợchồng chị tôi gồm 4000 m2 đất của bố mẹ chồng cho. 5000 m2 ruộng đã có bìa đỏđứng tên cả hai vợ chồng. Bìa đỏ được cấp năm 2011. Ngôi nhà 100m2 được xâytrên mảnh đất 4000m2 đã có sổ đỏ nhưng vì ở nông thôn không cần giấy phép xâydựng. Xin hỏi luật sư: Bây giờ vợ chồng chị tôi ly hôn thì hai tài sản đó sẽđược chia như thế nào? Ghi chú là chị tôi và anh rể có hai con gái, đứa lớn 18tuổi và đứa bé 15 tuổi.
Chị tôi đề nghị nhờTòa phân chia tài sản hộ nhưng chồng chị không đưa bìa đỏ cho và không nộp lênTòa thì phải làm thế nào? Nếu Tòa phân chia thì án phí sẽ tính thế nào? Trườnghợp chồng chị giấu bìa đỏ đi và làm lại chứng nhận bìa đỏ chỉ đứng tên anh tathì có được không vì đất đó được tách nhượng cho từ bố mẹ anh ta? Xin cảm ơnluật sư!
Luật sư tư vấn:
Thứ nhất, trường hợpchồng giấu bìa đỏ đi và làm lại chứng nhận bìa đỏ chỉ đứng tên chồng thì cóđược không?
Điều 33 Luật Hôn nhânvà gia đình 2014 quy định: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồngtạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tứcphát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân(trừ trường hợp tài sản đã chia trong thời kì hôn nhân và hoa lợi, lợi tích tạora từ tài sản đó), tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng chochung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất màvợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợpvợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông quagiao dịch bằng tài sản riêng.
Trong trường hợp khôngcó căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sảnriêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Như vậy, quyền sử đụngđối với mảnh đất 4000m2 mà vợ chồng anh chị bạn được bố mẹ chồng tặng cho làtrong thời kì hôn nhân, mặt khác người chồng không có giấy tờ, thỏa thuận vềviệc đó là tài sản tặng cho riêng hay đó là tài sản riêng, do vậy, đây cũng làtài sản chung của vợ chồng.
Đối với việc sửa đổitên trong Giấy chứng nhận quyền sử đất từ hai người thành một người khi chưa cóbản án ly hôn của Tòa án tức là tài sản này nếu được sửa đổi tên là do chia tàisản chung trong thời kì hôn nhân. Điều 12 Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫnbiện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“Trong trường hợp tàisản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân mà trong giấy chứng nhận quyền sởhữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên cả vợ và chồng thì bên được chiaphần tài sản bằng hiện vật có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lạigiấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở vănbản thỏa thuận của vợ chồng hoặc quyết định của Tòa án về chia tài sản chung.”
Điều này có nghĩa là,vợ hoặc chồng chỉ có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đăng kí lại quyền sửdụng mảnh đất đứng tên từ hai người thành một người nếu có văn bản thỏa thuậncủa vợ chồng hoặc Quyết định chia tài sản chung của Tòa án. Do đó, trường hợpcủa bạn, người chồng không thể tiến hành xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất đứng tên một mình anh ta được.
Thứ hai, tài sản đóđược chia như thế nào?
Khoản 2 Điều 33 LuậtHN&GĐ quy định rõ “Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất,được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợchồng”, tức là tài sản này chỉ thuộc quyền sử dụng của hai vợ chồng mà khôngliên quan gì đến các con.
Theo quy định tại Điều59 Luật HN&GĐ, về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi,tuy nhiên nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của giađình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng gópcủa vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Laođộng của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi íchchính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên cóđiều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bêntrong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Tài sản chung của vợchồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theogiá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mìnhđược hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Tài sản riêng của vợ,chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vàotài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sựsáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầuvề chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vàokhối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Đối với tài sản chunglà Quyền sử dụng đất, việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồngkhi ly hôn được thực hiện như sau (Điều 62):
– Đối với đất nôngnghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầuvà có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của haibên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tạiĐiều 59 Luật HN&GĐ.
Trong trường hợp chỉmột bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếptục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất màhọ được hưởng;
– Đối với đất nôngnghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chiatheo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ;
– Đối với loại đấtkhác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.
Thứ ba, trường hợpngười chồng không đồng ý chia tài sản, không đưa ra Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất thì làm thế nào?
Tại phiên tòa giảiquyết ly hôn, Tòa án sẽ chia tài sản dựa trên sự thỏa thuận của các bên, trườnghợp vợ chồng không thỏa thuận được, hoặc đã thỏa thuận nhưng muốn thay đổi thìTòa án sẽ tiến hành chia tài sản theo luật định.
Nếu trường hợp ngườichồng không đồng ý chia tài sản, Tòa án sẽ yêu cầu người chồng nộp những giấytờ, tài liệu cần thiết để tiến hành thủ tục ly hôn. Trong trường hợp không thuthập được tài liệu của đương sự thì Tòa án có trách nhiệm tiến hành thu thập từcác cơ quan hữu quan.
Trường hợp sau khi đãcó bản án của Tòa án, bản án đã có hiệu lực pháp luật, trong một thời hạn nhấtđịnh mà người chồng vẫn không tiến hành các thủ tục tách thửa, sang tên quyềnsử dụng đất thì người vợ nộp đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành ándân sự. Lúc này cơ quan thi hành án dân sự sẽ có văn bản gửi cho người chồngbuộc phải thực hiện nghĩa vụ. Nếu trong thời hạn quy định, người chồng khôngthực hiện thì cơ quan thi hành án sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc ngườichồng thực hiện nghĩa vụ.
5. Vợ có được chia tài sản khi ly hôn nếu ởnhà nội trợ?
Vợ chồng anh T.T.H (32tuổi; ở Quận 3-Hồ Chí Minh) kết hôn được 5 năm và có một con nhỏ 3 tuổi. Anh Hđi làm, còn chị V (vợ anh H) ở nhà nội trợ.
Do cuộc sống hôn nhântrục trặc, anh H bày tỏ mong muốn được ly hôn. Gửi câu hỏi cho tòa soạn, ngườiđàn ông này băn khoăn nếu phải ra tòa, tài sản hình thành trong thời kỳ hônnhân sẽ được chia như thế nào?
Giải đáp thắc mắc này,luật sư Trần Minh Hùng (Trưởng Văn Phòng Luật Sư Gia Đình) nhận định, dù chị Vkhông có thu nhập, khối tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân vẫn được tínhlà tài sản chung của vợ chồng.
Khoản 1, Điều 33 LuậtHôn nhân và gia đình 2014 quy định, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản dovợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoalợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳhôn nhân, được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợchồng thỏa thuận là tài sản chung.
Do đó, tài sản do mìnhanh H tạo ra được xác định vào khối tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợphai người có thỏa thuận khác theo các trường hợp tại Khoản 1, Điều 28 luật này.
Về nguyên tắc, tài sảnchung của vợ chồng được chia đôi nhưng sẽ tính tới các yếu tố quy định tạiKhoản 2, Điều 59 như hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng gópcủa vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, haylỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Điều 7 Thông tư liêntịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định “công sức đóng góp của vợ, chồngvào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp vềtài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trongviệc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Vợ hoặc chồng ở nhàchăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tươngđương với thu nhập của người đi làm. Ngoài ra, nếu công sức đóng góp nhiều hơnsẽ được chia nhiều hơn.
Như vậy, chị V làngười thực hiện công việc nội trợ, trông nom con cái, chăm sóc gia đình. Chịkhông có thu nhập hằng tháng nhưng vẫn được tính là có thu nhập tương đương vớithu nhập của anh H và vẫn được chia tài sản chung hình thành trong thời kỳ hônnhân.
Luật sư Trần Minh Hùng chuyên giatư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...
Chúng tôilà hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyênviên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm,kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệmvà đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý-cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sưbảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư lànghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sưluôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sưthì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề,chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnhhưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luậtsư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúpđược cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đemlại công bằng cho xã hội.
Luật sưTrần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư GiaĐình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyềnthông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luậttrên các Kênh truyền hình uy tín như: Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đàitruyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công anANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cápVTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh KiênGiang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đờisống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhândân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luậtTP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL,Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uytín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luậtsư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếngtrên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàngNavibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầugiây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, LừaĐảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự,kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lạiniềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm cônglý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.
Chúng tôicùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nướcrất lâu năm.
Trân trọngcảm ơn!.
