Luật sư tư vấn mức phạt hình sự với tội buôn bán hàng giả trong dịp Tết
Luật sư tư vấn mức phạt hình sự với tội buôn bán hàng giả trong dịp Tết
Luật sư tư vấn mức phạt hình sự với tội buôn bán hàng giả trong dịp Tết
Tại Điều 192 quy định, người nào sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 100 triệu đến 01 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30 đến dưới 150 triệu đồng;
- Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá dưới 30 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 192 hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật Hình sự hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
1.Mức phạt hình sự với tội buôn bán hàng giả
Bài viết này sẽ cung cấp thông tinvề Tội buôn bán hàng giả tại Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm2017, không bao gồm các tội: Buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụgia thực phẩm; buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Buôn bánhàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thựcvật, giống cây trồng, vật nuôi.
Tại Điều 192 quy định, người nào sảnxuất, buôn bán hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiềntừ 100 triệu đến 01 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- Hàng giả tương đương với số lượngcủa hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30đến dưới 150 triệu đồng;
- Hàng giả tương đương với số lượngcủa hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá dưới30 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành viquy định tại Điều 192 hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194,195, 196 và 200 của Bộ luật Hình sự hoặc đã bị kết án về một trong các tội này,chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Các tội đã liệt kê trên cụ thể là:
+ Tội buôn lậu (Điều 188); Tội vậnchuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189);
+ Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm(Điều 190); Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191);
+ Tội sản xuất, buôn bán hàng giả làlương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); Tội sản xuất, buôn bánhàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Tội sản xuất, buônbán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệthực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi (Điều 195);
+ Tội đầu cơ (Điều 196); Tội trốnthuế (Điều 200).
- Gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
- Thu lợi bất chính từ 50 đến dưới100 triệu đồng;
- Gây thiệt hại về tài sản từ 100đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân thương mại vi phạm quyđịnh trên thì bị phạt tiền từ 01 - 03 tỷ đồng.
Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm khiphạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Phạm tội có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổchức;
- Hàng giả tương đương với số lượngcủa hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ150 đến dưới 500 triệu đồng;
- Thu lợi bất chính từ 100 đến dưới500 triệu đồng;
- Làm chết người;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của nhữngngười này từ 61% đến 121%;
- Gây thiệt hại về tài sản từ 500triệu đến dưới 1,5 tỷ đồng;
- Buôn bán qua biên giới;
- Tái phạm nguy hiểm.
Pháp nhân thương mại phạm tội thuộcmột trong các trường hợp trên thì bị phạt tiền từ 03 - 06 tỷ đồng, trừ cáctrường hợp: lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chứ;tái phạm nguy hiểm.
Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khiphạm tội thuộc một trong các trường hợp:
- Hàng giả tương đương với số lượngcủa hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500triệu đồng trở lên;
- Thu lợi bất chính 500 triệu đồngtrở lên;
- Làm chết 02 người trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của nhữngngười này 122% trở lên;
- Gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷđồng trở lên.
Pháp nhân phạm tội thuộc trường hợpnày thì bị phạt tiền từ 06 - 09 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ06 tháng đến 03 năm.
Ngoài các mức phạt trên, người phạmtội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 20 - 50 triệu đồng,cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 - 05năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Bên cạnh đó, hình phạt bổ sung đượcáp dụng với pháp nhân thương mại là phạt tiền từ 50 - 200 triệu đồng, cấm kinhdoanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ01 - 03 năm.
Trong trường hợp pháp nhân thươngmại thành lập chỉ để buôn bán hàng giả thì có thể bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộhoạt động.
2.Xửphạt hành chính:
Hành vi buôn bán hàng giả mạo nhãnhàng hóa, bao bì hàng hóa sẽ bị xử phạt theo Điều 13 Nghị định 185/2013/NĐ-CP.Mức phạt từ 200 000 đồng đến 30 000 000 đồng.
Biện pháp khắc phục hậu quả:
+ Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trênnhãn, bao bì hàng giả hoặc buộc tiêu hủy hàng giả;
+ Buộc thu hồi loại bỏ yếu tố viphạm trên nhãn, bao bì hàng giả hoặc buộc thu hồi tiêu hủy hàng giả đang lưuthông trên thị trường;
+ Buộc nộp lại số lợi bất hợp phápcó được do thực hiện hành vi vi phạm.
3.Phân biệt tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” và tội “Xâm phạm sở hữu côngnghiệp”
Quy định của pháp luật hình sự vềtội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” và tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”
Các quy định của pháp luật hình sựvề hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả được hình thành khá sớm. Điều 5 Pháplệnh số PL/1982 ngày 30 tháng 06 năm 1982 của Hội đồng nhà nước về trừng trịtội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép đã có những quy địnhcụ thể đối với các hành vi làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả với mức hìnhphạt cao nhất là tù chung thân. Kế thừa các quy định Pháp lệnh, Bộ luật hình sự1985 (Sửa đổi, bổ sung năm 1992) đã quy định về tội Làm hàng giả, buôn bán hànggiả, theo đó, đây là một tội phạm thuộc chương các tội phạm về kinh tế và cómức hình phạt nghiêm khắc (mức hình phạt cao nhất là tử hình).
Trong suốt thời kỳ đó, pháp luậthình sự chưa có quy định xử lý đối với các hành vi xâm phạm sở hữu công nghiệp.Sự ra đời của Bộ luật dân sự 1995 và các quy định của pháp luật về quyền sở hữucông nghiệp được hình thành, từ đó Bộ luật hình sự 1999 lần đầu tiên quy địnhvề tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” tại Điều 171 BLHS 1999 với hành vikhách quan là “vì mục đích kinh doanh mà chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp sángchế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi,xuất xứ hàng hoá hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộtại Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vinày hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”. Nhưvậy, hành vi khách quan của tội “Xâm phạm sở hữu công nghiệp” trong thời kỳ nàyđược quy định khá rộng, bao gồm tất cả các hành vi chiếm đoạt, sử dụng các đốitượng quy định tại Mục 1, Chương II, Phần thứ sáu Bộ luật dân sự 1995 và saunày là Phần thứ ba Luật sở hữu trí tuệ 2005. So với tội “Sản xuất, buôn bánhàng giả” quy định tại Điều 156 BLHS 1999 thì tội “Xâm phạm sở hữu công nghiệp”được xác định là có tính nguy hiểm cho xã hội ít hơn, do đó mức hình phạt củatội này được quy định thấp hơn nhiều so với tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả”với mức hình phạt cao nhất là đến 03 năm tù.
Bộ luật hình sự 2015 ra đời đã hoànthiện quy định về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” để phù hợp với phápluật về dân sự, kinh doanh thương mại, sở hữu trí tuệ, theo đó, tội “Xâm phạmquyền sở hữu công nghiệp” là hành vi cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đốivới nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng làhàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý. Như vậy, từ việc quy định tấtcả các hành vi chiếm đoạt, sử dụng các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệptheo Luật sở hữu trí tuệ thì nay, mặt khách quan của tội này chỉ còn là hành vicố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lýđang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặcchỉ dẫn địa lý. Tội phạm này được xác định là tội ít nghiêm trọng với mức hìnhphạt cao nhất là đến 03 năm tù đối với cá nhân phạm tội, hoặc phạt tiền từ2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạntừ 06 tháng đến 02 năm đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
Phân biệt tội “Sản xuất, buôn bánhàng giả” với tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”
Trong cấu thành tội phạm của tội“Sản xuất, buôn bán hàng giả” và tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” có sựtương đồng về chủ thể tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm. Chủ thể tội phạmcủa các tội này đều không phải là chủ thể đặc biệt và phải thỏa mãn các điềukiện về năng lực hành vi hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đồng thờitội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Việc phân biệt hai tội phạm trên dựa trênyếu tố khách thể và mặt khách quan của tội phạm, cụ thể như sau:
Khách thể của tội phạm:
Bộ luật hình sự 2015 (BLHS) xác địnhtội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” thuộc nhóm các tội phạm xâm phạm trật tự quảnlý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại tại Mục 1, ChươngXVIII. Nhóm tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả quy định tại Mục này còn baogồm các tội: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ giathực phẩm (Điều 193); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốcphòng bệnh (Điều 194); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi,phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều195). Nhóm tội phạm này tương đồng về cấu thành tội phạm, tuy nhiên do nhữngđặc thù về mặt hàng bị làm giả dẫn đến sự phân loại tính nguy hiểm cho xã hộikhác nhau. Vì vậy BLHS quy định về căn cứ định tội và định khung hình phạt đốivới từng tội phạm trên có sự khác biệt.
Tội “Xâm phạm quyền sở hữu côngnghiệp” được quy định thuộc Mục 3, Chương XVIII của BLHS, tức là nhóm tội phạmkhác xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Cụ thể hơn, tội phạm này cùng với tội“Xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan” quy định tại Điều 225 BLHS thuộc nhómtội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế đối với quyền sở hữu trí tuệ.
Việc xác định sự khác biệt về kháchthể của tội phạm đối với tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” và tội “Xâm phạmquyền sở hữu công nghiệp” có ý nghĩa xác định sự khác nhau giữa các quan hệpháp luật mà các tội phạm này xâm phạm, từ đó có một nhận thức đúng đắn về mặtkhách quan như phân tích dưới đây.
Mặt khách quan của tội phạm:
Để phân biệt rõ mặt khách quan củatội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” và tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”cần phải làm rõ quy định của pháp luật hiện hành về khái niệm “hàng giả” là đốitượng của tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” và “hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặcchỉ dẫn địa lý” là đối tượng của tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.
Các văn bản pháp luật hình sự hiệnchưa quy định cụ thể về hai khái niệm trên, do đó cần phải căn cứ vào các quyđịnh của pháp luật liên quan và phù hợp với quy định của pháp luật hình sự.Khái niệm hàng giả trước đây được quy định tại Thông tư liên tịch của Bộ thươngmại – Bộ tài chính – Bộ công an – Bộ Khoa học công nghệ và môi trường số10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA – BKHCNMT ngày 27/04/2000 hướng dẫn thực hiện chỉ thịsố 31/1999/CT – TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chốngsản xuất và buôn bán hàng giả. Hiện nay, khái niệm hàng giả được ghi nhận tạiKhoản 8, Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chínhphủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất,buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sau đây gọi làNghị định 185).
Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV,THVL1, ANTV, SCTV1...
Chúng tôi là hãng luật tổng hợpnhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên cótrình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biếtrộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trongnghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghềluật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho nhữngnạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguyhiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguyhiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm,có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận cókhăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến côngviệc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa.Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ,đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xãhội.
Luật sư Trần Minh HùngTrưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiềunăm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởngvới nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênhtruyền hình uy tín như: Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hìnhViệt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV,THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOVGiao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hìnhQuốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và phápluật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trêncả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo chonhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật vớitrường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luậtcho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiềuvụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, ngườidân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như vàViettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùaCovid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cốý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động,hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sựđóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hộicủa luật sư chúng tôi.
Chúng tôi cùng tư vấn luật vàcố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.
Trân trọng cảm ơn.
ĐOÀN LUẬTSƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnhCông chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Email: luatsuthanhpho@gmail.com
