1.Chia tài sản ly hôn, án phí được xác định thế nào?

Điểm d, đ, e Khoản 3 Điều 27 Nghịquyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lývà sử dụng án phí và lệ phí tòa án quy định về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơthẩm trong một số loại việc cụ thể như sau:

d) Trường hợp đương sự tự thỏa thuậnphân chia tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu tòa án ghi nhận trong bản án,quyết định trước khi tòa án tiến hành hòa giải thì đương sự không phải chịu ánphí dân sự sơ thẩm đối với việc phân chia tài sản chung;

đ) Trường hợp tòa án đã tiến hànhhòa giải, tại phiên hòa giải đương sự không thỏa thuận việc phân chia tài sảnchung của vợ chồng nhưng đến trước khi mở phiên tòa các bên đương sự tự thỏathuận phân chia tài sản chung của vợ, chồng và yêu cầu tòa án ghi nhận trongbản án, quyết định thì được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với nhau vềviệc giải quyết vụ án trong trường hợp tòa án hòa giải trước khi mở phiên tòavà phải chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sảnmà họ được chia;

e) Trường hợp các đương sự có tranhchấp về việc chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng, tòaán tiến hành hòa giải, các đương sự thống nhất thỏa thuận được về việc phânchia một số tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung, còn một số tài sảnchung và nghĩa vụ về tài sản chung không thỏa thuận được thì các đương sự vẫnphải chịu án phí đối với việc chia toàn bộ tài sản chung và nghĩa vụ về tài sảnchung của vợ chồng.

Như vậy, trong trường hợp này, ánphí dân sự sẽ được trả lại một phần hoặc toàn bộ theo quy định pháp luật nêutrên.

2.Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn?

1. Tranh chấp chia tài sản chung củavợ chồng

Căn cứ Điều 33, khoản 2 và 3 Điều59, Điều 60, 61, 63, 64 của Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định:

Tài sản chung của vợ chồng gồm tàisản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh,hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trongthời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luậtnày; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sảnkhác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng cóđược sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặcchồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịchbằng tài sản riêng.

Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợchồng khi ly hôn: Về nguyên tắc, tài sản của vợ chồng khi ly hôn sẽ được chiađôi, tuy nhiên pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận công sức đóng góp vào việc tạolập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Bên cạnh đó còn phải xem xét yếutố lỗi của mỗi bên có vi phạm quyền và nghĩa vụ vợ chồng mà phân chia di sản.

Vì vậy, các bên phải chứng minh đượccông sức tạo lập tài sản đến đâu, bên còn lại vi phạm nghĩa vụ như thế nào, đểdựa vào những cơ sở đó Tòa án có sự phân chia công bằng, hợp lý; Tài sản của vợchồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì sẽ chiatheo giá trị; Bên nào được chia tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn thìphải thanh toán phần chênh lệch cho bên còn lại.

2. Tranh chấp về xác định tài sảnriêng của vợ chồng

Căn cứ theo Điều 43 của Luật hônnhân và gia đình 2014, Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người cótrước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thờikỳ hôn nhân; Tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều38, 39 và 40 của Luật này; Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng vàtài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.Bên cạnh đó tài sản riêng khác của vợ chồng theo quy định tại Điều 11 Nghị định126/2014/NĐ-CP gồm: "Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theoquy định của pháp luật sở hữu trí tuệ; Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữuriêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác; Khoảntrợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãingười có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ,chồng".

Đối với những tài sản mà một bên chorằng đó là tài sản riêng thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Theo quy định tạikhoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình quy định: "Trong trường hợpkhông có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tàisản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung" .

Lưu ý: Tranh chấp tài sản khi ly hôncó yếu tố nước ngoài, đối với việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nướcngoài khi ly hôn thì tuân theo quy định pháp luật của nước nơi có bất động sảnđó (khoản 3 Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014).

3.Tiền mừng đám cưới được phân chia thế nào khi ly hôn?

Tóm tắt câu hỏi:

Kính thưa Luật sư. Tôi và chồng mớikết hôn được gần 1 năm trong quá trình chung sống chúng tôi chưa có con vớinhau nhưng phát sinh nhiều điều không như mong muốn. Chồng tôi nhiều lần đã nóisẽ làm đơn đề nghị tôi chia tay với lý do chúng tôi không hợp nhau, không thểsống với nhau lâu dài được nhưng tôi không chấp nhận. Gần đây chồng tôi nói,nếu làm đơn mà tôi không ký thì cũng gửi cơ quan pháp luật xin ly hôn đơnphương. Xin hỏi Luật sư: Tôi và chồng tôi cả hai đều là công chức, chồng tôiđơn phương ly hôn có được không.Tôi không có tài sản riêng gì trước khi kếthôn; nhưng chồng tôi trước khi kết hôn có một số tài sản lớn bao gồm: Một cănhộ: do cha mẹ anh ấy cho, chồng tôi đã ở một mình trước khi kết hôn 5 năm, giấytờ nhà do chồng tôi đứng tên và từ khi kết hôn đến nay vợ chồng chúng tôi sốngchung ở đây, một ô tô do chồng tôi đứng tên và cũng sử dụng từ trước khi kếthôn, hai cơ sở kinh doanh. Toàn bộ tiền thu nhập từ hai cơ sở này và tiền lươngcủa cá nhân chồng tôi từ khi mới cưới đến nay do anh ấy quản lý để thanh toánviệc bảo dưởng, sửa chửa, chi phí điện, nước, chi phí quản lý nhà ở gia đình vàchi phí hoạt động cho 02 cơ sở kinh doanh dich vụ nêu trên; còn lại anh ấy giữ.Chúng tôi có số tiền của hai bên gia đình cho, họ hàng hai bên, bạn bè mừng đámcưới, sau khi thanh toán các khoản chi phí cho đám cưới còn lại 1 tỷ tiền ViệtNam. Số tiền này từ khi mới kết hôn tôi đứng tên gởi ngân hàng để nhận lãi hàngtháng cùng với tiền lương tháng của tôi chi phí cho việc ăn uống của gia đình;mua sắm… Vậy số tiền này nếu khi phải ly hôn thì sẽ giải quyết như thế nào. XinLuật sư tư vấn giúp. Chân thành cảm ơn luật sư !

Luật sư tư vấn:

Vấn đề 1: Chồng tôi đơn phương lyhôn có được không?

Theo quy định của Luật hôn nhân giađình 2014 thì:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của mộtbên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hônmà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căncứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọngquyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng,đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồngcủa người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết choly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu lyhôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho lyhôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởngnghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy, nếu hôn nhân trầm trọng vàkhông mang lại hạnh phúc thì chồng bạn hoàn toàn có thể đưa đơn ly hôn đơnphương.

Vấn đề 2: Tài sản ly hôn

Hai vợ chồng bạn có khá nhiều tàisản, tuy nhiên như bạn trình bày thì bạn không có tài sản riêng gì, mặt khácnhững tài sản hiện nay đều là tài sản riêng của chồng bạn nên nếu chưa có sựđồng ý sát nhập vào tài sản chung thì đều được coi là tài sản riêng của chồngbạn. Tuy nhiên, hoa lợi lợi tức từ những cơ sở sản xuất này thì được coi là tàisản chung của hai vợ chồng.

Khi cưới, hai bạn có số được cho,bạn bè mừng đám cưới, sau khi thanh toán các khoản chi phí cho đám cưới còn lại1 tỷ tiền Việt Nam. Như vậy tài sản này là tài sản chung của hai vợ chồng nêntheo quy định của Luật hôn nhân gia đình thì:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồmtài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinhdoanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp kháctrong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 củaLuật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung vàtài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng cóđược sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặcchồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịchbằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộcsở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiệnnghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứđể chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗibên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Tóm lại, tài sản chung của hai ngườisẽ chia đôi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng được coi là tài sản chung củahai vợ chồng. Việc chứng minh tài sản chung riêng thì căn cứ vào thời gian hônnhân, thời điểm có tài sản.

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên giatư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôilà hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyênviên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm,kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệmvà đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý-cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sưbảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư lànghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sưluôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sưthì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề,chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnhhưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luậtsư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúpđược cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đemlại công bằng cho xã hội. 

 Luậtsư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sưGia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyềnthông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luậttrên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM(HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long,Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam,Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phátthanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổitrẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công annhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại họcluật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trườngĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại họcuy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luậtsư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếngtrên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàngNavibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầugiây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, LừaĐảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự,kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lạiniềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm cônglý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôicùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nướcrất lâu năm.

Trân trọngcảm ơn!.