1. Để xác định chính xác có yếu tố chiếm đoạt hay không cần nắm vững một số điểm cơ bản về vấn đề này. Trong các tài liệu pháp lý, chiếm đoạt được hiểu là hành vi cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản, quyền tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ thể( nhà nước, tập thể hoặc cá nhân) thành tài sản của mình. Các đặc điểm pháp lý của hành vi chiếm đoạt tài sản bao gồm:

     Về mặt khách quan, hành vi làm cho chủ tài sản mất khả năng thực tế thực hiện quyền sử dụng, quyền định đoạt, quyền chiếm hữu đối với tài sản là: không thực hiện việc hoàn trả tài sản, chuyển dịch quyền sở hữu tài sản trái pháp luật, chủ sở hữu bị mất vĩnh viễn quyền hợp pháp của mình đối với tài sản, một bên tham gia hợp đồng đã chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của người khác như của mình.

     Đối tượng chiếm đoạt là tài sản và quyền tài sản. trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, tài sản bị chiếm đoạt có thể là vốn dưới hình thức tiền tệ ( tiền VN đồng hoặc ngoại tệ), trong một số trường hợp có thể là quyền tài sản: các công cụ thanh toán ( ngân phiếu thanh toán, séc hoặc các giấy tờ có giá bằng tiền). Các tài sản, quyền tài sản này phải có thực, thuộc sở hữu của người bị chiếm đoạt và chủ sở hữu không từ chối quyền sở hữu đối với tài sản.

     Về mặt chủ quan, lỗi của người thực hiện hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực tiếp và mục đích tư lợi.

     2. Trong lĩnh vực tín dụng, vay mượn tài sản không thể coi là chiếm đoạt nếu cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được các yếu tố sau:

     Thứ nhất, hành vi không trả nợ là cố ý trực tiếp, tức người phạm tội nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi không trả nợ và mong muốn hậu quả xảy ra với mục đích tư lợi. Cố ý không trả nợ có thể được biểu hiện dưới hình thức không hành động: không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng khi nợ đến hạn mà không có sự chấp thuận gia hạn nợ, không được chủ nợ đồng ý xóa nợ… hoặc là hành động như cản trở việc phát mại tài sản để thu hồi nợ…

     Thứ hai, bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản. Có quan điểm cho rằng chỉ cần chứng minh bỏ trốn nhằm gây khó khăn cho chủ nợ trong việc thu hồi nợ, ngoại trừ những trường hợp bỏ trốn vì sợ chủ nợ cưỡng bức, hành hạ… những đe dọa này, nếu có, phải có thực và nguy hiểm trực tiếp đối với con nợ là đủ. Thực tiễn cho thấy đây là yếu tố rất hay gây tranh cãi và dễ bị lạm dụng trong thực tiễn để quy kết về mặt hình sự. Theo chúng tôi, việc bỏ trốn trên thực tiễn có thể có rất nhiều lý do khác nhau. Bỏ trốn để tạm lánh mặt chủ nợ do hiện tại bản thân họ không có khả năng trả nợ do kinh doanh thua lỗ, do họ cũng là nạn nhân của việc bị người khác chiếm đoạt; bỏ trốn do sợ công an bắt, do sức ép từ các con nợ… do đó khi xác định việc bỏ trốn phải luôn gắn với yếu tố nhằm chiếm đoạt tài sản.

     Thứ ba, người đi vay cố ý không trả nợ, mặc dù có khả năng trả nợ, hoặc có hành vi tẩu tán, chuyển dịch tài sản, che dấu doanh thu, thu nhập… nhằm mục đích trốn tránh việc trả nợ. Nguyên nhân dẫn đến việc không trả được nợ phải xác định rõ không phải do kinh doanh thua lỗ, do biến động giá cả, bất ổn của thị trường hoặc do thiên tai và các trường hợp bất khả kháng mà là hậu quả của việc sử dụng vốn vay vào các hoạt động kinh doanh pháp luật không cho phép ( dùng vốn vay đi buôn lậu, buôn bán hàng cấm, làm hàng giả, đưa hối lộ…) vi phạm các quy định pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh, quản lý tài chính doanh nghiệp. Để xác định doanh nghiệp có thực sự thua lỗ, thông thường áp dụng phương pháp xác định đầu ra, đầu vào tức lấy tổng thu trừ đi tổng chi, phần chênh lệch nếu không chứng minh được là thua lỗ thì đó là chiếm đoạt. Song, vấn đề đặt ra là làm thế nào để chứng minh được rằng việc không trả nợ không là hậu quả của việc kinh doanh thua lỗ, do các biến động giá cả, thị trường… bởi trong thực tế chưa có những quy định pháp luật thống nhất về chế độ hóa đơn- chứng từ trong kinh doanh, chưa có những quy định pháp luật đồng bộ, chuẩn mực về báo cáo tài chính, phương thức khấu hao tài sản cố định, phương thức tính hàng tồn kho, chế độ kế toán, kiểm toán,… đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân.

     3. Trong tội lạm dụng tín nhiệm, tình tiết sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản một số trường hợp người đi vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích xin vay vốn tức là dùng vốn vay với mục đích ban đầu là đầu tư, kinh doanh, sản xuất để tiêu xài, xây nhà cửa, mua sắm đồ dùng, phương tiện đi lại dẫn đến không trả được nợ, khi đến hạn có coi là hành vi chiếm đoạt và chịu trách nhiệm hình sự; xung quanh vấn đề này có nhiều quan điểm khác nhau:

     - Quan điểm thứ nhất cho rằng: nếu tài sản mua sắm còn lại ngang giá với khoản vay thì có thể áp dụng các chế tài vật chất và các biện pháp cưỡng chế kê biên thu hồi tài sản để trừ nợ mà chưa thể truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu con nợ không có hành vi chống lại việc kê biên, thu hồi tài sản, chỉ có thể gọi là chiếm đoạt và chịu trách nhiệm hình sự đối với khoản chênh lệch của khoản vay so với giá trị tài sản hiện có ( nếu giá trị tài sản đủ yếu tố cấu thành )và đối tượng của chiếm đoạt là khoản chênh lệch đó.

     - Quan điểm thứ hai: trường hợp người đi vay dùng vốn vay mua sắm, tiêu xài sai với mục đích xin vay, đến hạn không trả được nợ hoàn toàn hội đủ các yếu tố hành vi chiếm đoạt tức có ý thức và cố ý biến tài sản của người khác thành tài sản của mình thông qua việc dùng tiền vay mua sắm, tiêu xài; cố ý không hoàn trả nợ khi hoàn toàn có khả năng trả nợ, có thể bán nhà, tài sản có được khi mua sắm từ vốn vay; hành vi chiếm đoạt đã hoàn thành tức không hoàn trả khi khoản nợ đến hạn…

     - Nếu đồng ý với quan điểm thứ hai, trong thực tế áp dụng sẽ gặp nhiều bất cập. Bởi vì, hiện nay đa số các hợp đồng tín dụng, điều khoản về mục đích sử dụng vốn vay ghi rất chung chung là “kinh doanh ” vì vậy việc mua sắm nhà cửa, phương tiện đi lại, du lịch nước ngoài trong một chừng mực nào đó có thể gọi là kinh doanh hoặc gián tiếp nhằm mục đích kinh doanh, đặc biệt là đối với các nghĩa vụ, các khoản nợ doanh nghiệp. Vì vậy, họ có thể sử dụng vốn vay với các mục đích khác nhau miễn là không vi phạm pháp luật.

     Ngoài ra, trong một số trường hợp, tùy thuộc vào vụ việc cụ thể, cơ quan điều tra phải xem xét đến ý thức trả nợ của người đi vay. Trong một số trường hợp do sử dụng vốn sai mục đích xin vay, dẫn đến khả năng mất trả nợ cho ngân hàng như áp dụng lãi suất quá hạn, phạt vi phạm hợp đồng nhưng ngân hàng vẫn không đồng ý gia hạn, thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này.
Một số trường hợp, khi người đi vay không trả được nợ hoàn toàn do các yếu tố khách quan như bị người khác lừa đảo, chiếm đoạt… dẫn đến mất khả năng chi trả, thì không thể coi là hành vi chiếm đoạt.

     4. Đối với những tội phạm có tính chất chiếm đoạt, cơ quan tiến hành tố tụng cần lấy lời khai của bị can, bị cáo cần làm rõ ý thức chủ quan thực sự của họ là gì”: nhằm chiếm đoạt tài sản đó hay chỉ chây ỳ chưa chịu trả để chiếm dụng trái phép?. Đối với những trường hợp bị can, bị cáo khai không có ý thức chiếm đoạt thì cần căn cứ vào hành vi khách quan để làm rõ ý thức chủ quan. Cần làm rõ bị can, bị cáo có hay không những hành vi gian lận như: sửa chữa chứng từ tài liệu, che dấu địa chỉ, bỏ trốn khỏi nơi cư trú,… nhằm không phải trả nợ, qua đó chuyển dịch bất hợp pháp tài sản từ chủ sở hữu thành tài sản của họ hoặc người thân của họ. Trong trường hợp, các bị cáo khai không có ý thức chiếm đoạt tài sản, thực tế các bị cáo không có các hành vi gian lận nhằm không phải trả lại tiền, mà ngược lại các bị cáo vẫn nhận, ký vào các giấy tờ xác nhận các khoản nợ này,… cần xác định hành vi của bị cáo là sử dụng tiền của mà không được phép của chủ sơ hữu, trái với quy định, trái với các thỏa thuận hợp đồng, qua đó xâm phạm trực tiếp đến quyền sử dụng tài sản của chủ sở hữu. Những hành vi này cấu thành tội “ sử dụng trái phép tài sản” chứ không phải các tội phạm có tính chất chiếm đoạt.