Trình tự phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm tiến hành như thế nào?
Trình tự phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm tiến hành như thế nào?
Trình tự phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm tiến hành như thế nào?
1. Thủ tục bắt đầu phiên toà
Theo quy định từ Điều 300 đến Điều 305 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì thủ tục bắt đầu phiên toà được quy định nhằm kiểm tra sự có mặt của những người tham gia tố tụng và tạo điều kiện cần thiết cho phiên toà.
- Chuẩn bị khai mạc phiên toà:
Để phiên toà được tiến hành theo quy định của pháp luật, trước khi khai mạc phiên toà, thư kí toà án phải tiến hành các công việc sau:
+ Kiểm tra sự có mặt của những người được toà án triệu tập; nếu có người vắng mặt thì phải nêu lí do;
+ Phổ biến nội quy phiên toà.
- Khai mạc phiên toà:
1. Thủ tục bắt đầu phiên toà
Theo quy định từ Điều 300 đến Điều 305 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì thủ tục bắt đầu phiên toà được quy định nhằm kiểm tra sự có mặt của những người tham gia tố tụng và tạo điều kiện cần thiết cho phiên toà.
- Chuẩn bị khai mạc phiên toà:
Để phiên toà được tiến hành theo quy định của pháp luật, trước khi khai mạc phiên toà, thư kí toà án phải tiến hành các công việc sau:
+ Kiểm tra sự có mặt của những người được toà án triệu tập; nếu có người vắng mặt thì phải nêu lí do;
+ Phổ biến nội quy phiên toà.
- Khai mạc phiên toà:
Khai mạc phiên toà được quy định tại Điều 301 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, việc khai mạc phiên toà được tiến hành như sau:
+ Thẩm phán chủ toạ phiên toà khai mạc phiên toà và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử.
+ Thư kí toà án báo cáo hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người được toà án triệu tập và lí do vắng mặt.
+ Chủ toạ phiên toà kiểm tra lại sự có mặt của những người có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của toà án và kiểm tra lí lịch, phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ. Việc kiểm tra căn cước của những người được triệu tập và có mặt tại phiên toà được tiến hành như sau:
Đối với bị cáo: Phải hỏi để họ khai rõ về họ tên; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; nơi cư trú (nơi đăng kí hộ khẩu thường trú; nơi tạm trú); nghề nghiệp; trình độ văn hoá; hoàn cảnh gia đình (bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con); tiền án, tiền sự; ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Đối với người đại diện hợp pháp của bị cáo: Phải hỏi để họ khai rõ về họ tên; tuổi; nghề nghiệp; nơi sinh; nơi cư tni; quan hệ thế nào với bị cáo.
Đối với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diên hợp pháp của họ: Phải hỏi để họ khai về họ tên, tuổi; nghề nghiệp; nơi cư trú. Trường hợp nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cơ quan, tổ chức thì khai về tên và địa chỉ trụ sờ chính của cơ quan, tổ chức; họ tên; tuổi; nghề nghiệp; nơi cư trú của người đại diện hợp pháp cho cơ quan, tổ chức.
chính xác về căn cước của họ, ngoài việc yêu cầu họ khai rõ họ tên chính còn phải hỏi xem họ còn có tên nào khác hay bí danh không; chủ toạ phiên toà hỏi xem bị cáo đã nhận được bản cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn do pháp luật quy định chưa nếu đã được giao nhận thì nhận được ngày nào. Trường hợp bị cáo chưa nhận được hoặc đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng chưa được mười ngày thì phải hỏi bị cáo xem có đồng ý để toà án tiến hành xét xử vụ án không, nếu họ đồng ý thì ghi vào biên bản phiên toà và tiến hành xét xử theo thủ tục chung, nếu bị cáo không đồng ý thì hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà. Trường hợp bị cáo chưa được giao nhận bản cáo trạng thì ngay sau khi hoãn phiên toà, toà án yêu cầu viện kiểm sát tiến hành giao bản cáo trạng cho bị cáo. Trường hợp bị cáo chưa được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử thì toà án tiến hành giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo.
Chủ toạ phiên toà hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem họ có đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, thư kí toà án không. Nếu có người yêu cầu thì hội đồng xét xử xem xét và quyết định.
Chủ toạ phiên toà giới thiệu họ tên, nghề nghiệp hoặc chức vụ của người phiên dịch, người giám định, giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của họ (nếu có). Những người này phải cam đoan làm tròn nhiệm vụ.
Chủ toạ phiên toà giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của người làm chứng sau khi đã hỏi họ tên, nghề nghiệp, nơi cư trú của người làm chứng. Người làm chứng phải cam đoan không khai gian dối, nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì không phải cam đoan. Trước khi người làm chứng được hỏi về vụ án, chủ toạ phiên toà có thể quyết định những biện pháp để cho những người làm chứng không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc được với những người có liên quan. Trong trường hợp lời
khai của bị cáo và lời khai của người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ toạ phiên toà có thể quyết định cách li bị cáo với những người làm chứng trước khi hỏi người làm chóng.
- Giải quyết việc đề nghị thay đổi thẩm phàn, hội thẩm, kiểm sát viên, thư kí toà án, người giảm định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật
Chủ toạ phiên toà phải hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem họ có đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư kí toà án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật hay không,lí do của việc đề nghị thay đổi. Nếu có người đề nghị thì hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
- Người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản cam đoan
Sau khi giải thích quyền và nghĩa vụ cho người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản thỉ chủ toạ phiên toà yêu cầu những người này phải cam đoan làm tròn nhiệm vụ.
- Người làm chứng cam đoan và cách li người làm chứng
Sau khi giải thích quyền và nghĩa vụ cho người làm chứng, chủ toạ phiên toà yêu cầu người làm chứng phải cam đoan khai trưng thực.
Trước khi người làm chứng được hỏi về vụ án, chủ toạ phiên toà quyết định biện pháp để cho những người làm chứng không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan. Trường hợp lời khai của bị cáo và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ toạ phiên toà phải quyết định cách li bị cáo với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng.
- Giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên toà khi có người vắng mặt
Chủ toạ phiên toà phải hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét hay không. Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt hoặc tuy có mặt tại phiên tòa nhưng vì lí do sức khoẻ không thể tham gia tố tụng thì chủ toạ phiên toà phải hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên toà hay không; nếu có người yêu cầu thì hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
2. Thủ tục tranh tụng tại phiên toà
2.1 Thủ tục xét hỏi tại phiên toà
Thủ tục xét hỏi tại phiên toà được quy định từ Điều 306 đến Điều 319 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nhằm xem xét công khai những chứng cứ đã thu được ở giai đoạn điều tra và chứng cứ mới để chứng minh vụ án.
- Công bố cáo trạng
Đê có cơ sở tiến hành xét hỏi, trước khi tiến hành xét hỏi, kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu CÓ.Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo.
- Trình tự xét hỏi
Sau khi kiểm sát viên công bố cáo trạng, hội đồng xét xử tiến hành việc xét hỏi để xác định các tình tiết về từng việc và về từng tội đã truy tố. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người. Chủ toạ phiên toà điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lí.
Quy định này khắc phục tình trạng đặt nặng trách nhiệm chứng minh thuộc về hội đồng xét xử, không phù hợp nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì quyết định người hỏi trước, hỏi sau do chủ toạ phiên toà điều hành quyết định tuỳ theo từng vụ án cụ thể.
Khi xét hỏi từng người, chủ toạ phiên toà hỏi trước sau đó quyết định để thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
Người tham gia tố tụng tại phiên toà có quyền đề nghị chủ toạ phiên toà hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vẩn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản.
Khi xét hỏi, hội đồng xét xử xem xét vật chứng có liên quan trong vụ án.
- Công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố
+ Lời khai của người được xét hỏi tại phiên toà mâu thuẫn với lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố;
+ Người được xét hỏi không khai tại phiên toà hoặc không nhớ những lời khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố;
+ Người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố;
+ Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết.
Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu của người tham gia tố tụng hoặc tự xét thấy cần thiết thì hội đồng xét xử không công bố tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
- Hỏi bị cáo
Khi xét hỏi bị cáo, hội đồng xét xử hỏi riêng từng bị cáo. Nếu lời khai của bị cáo này có ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì chủ toạ phiên toà phải cách li họ. Trong trường hợp này, bị cáo bị cách li được thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi với bị cáo đó. Trước hết, bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án. Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn. Đối với các vụ án đồng phạm thì nên xét hỏi những bị cáo có vai trò chính trước, các bị cáo khác được hỏi sau. Nếu bị cáo là người chưa thành niên thì hội đồng xét xừ có thể yêu cầu cha, mẹ, thầy cô giáo giúp đỡ đặt câu hỏi cho bị cáo.
Khi hỏi bị cáo, kiểm sát viên phải chú ý không chỉ hỏi về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc buộc tội mà phải hỏi cả những tình tiết có liên quan đến việc gỡ tội cho bị cáo và những tình tiết khác.
Người bào chữa hỏi bị cáo về những tình tiết liên quan đến việc bào chữa và những tình tiết khác của vụ án. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hỏi bị cáo về những tình tiết liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Những người tham gia tố tụng tại phiên toà có quyền đề nghị chủ toạ phiên toà hỏi thêm về những tình tiết liên quan đến họ.
Trường hợp bị cáo không trả lời các câu hỏi thì hội đông xét xử, kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
- Hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ
Bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ trình bày những tình tiết của vụ án có liên quan đến họ. Sau đó, hội đồng xét xử, kiểm sát viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.
Khi được chủ toạ phiên toà đồng ý, bị cáo có thể hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo. Quy định này thể hiện tính dân chủ tại phiên toà, đồng thời tạo điều kiện để người tham gia tố tụng .bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình có hiệu quả hơn.
- Hỏi người làm chứng
