Tư Vấn Bồi Thường Thu Hồi Đất
Tư Vấn Bồi Thường Thu Hồi Đất
Tư Vấn Bồi Thường Thu Hồi Đất
Luật Đất Đai 2013 sẽ cóhiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014. Luật mới đã khắc phục những điểm hạn chếchưa được quy định trong luật cũ và giải quyết được những vấn đề còn khó khăntrong thực tiễn về bồi thường và thu hồi đất.
Theo Điều 26, khoản 3Luật Đất Đai 2013, 3. Khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh;phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người sử dụng đấtđược Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật.
1. Ủy ban nhân dân cấptỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất đối vớitổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nướcngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trườnghợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
b) Thu hồi đất nôngnghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.
2. Ủy ban nhân dân cấphuyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất đối vớihộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;
b) Thu hồi đất ở củangười Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Điểm mới so với Luật ĐấtĐai 2003 là trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tạikhoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đấthoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất. Như vậy, nếucó quyết định thu hồi đất đối với cả tổ chức và cá nhân thì quyết định thu hồithuộc UBND cấp tỉnh.
- Trình tự thông báokhi thu hồi đất có gì mới so với Luật Đất Đai 2003?
Trước khi có quyết địnhthu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đấtphi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất chongười có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thuhồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. Luật đất đai 2003 chỉ quy địnhthông báo cho người bị thu hồi biết lý do thu hồi, thời gian di chuyển, phươngán tổng thể. Luật mới đã cụ thể hóa hơn và có sự tham gia của người dân vào kếhoạch khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, tránh các trường hợp không đồng ý về phươngán đền bù khi thu hồi.
- Hỏi: Các trường hợpphải thu hồi đất có gì mới so với quy định của Luật Đất Đai 2003?
Luật Đất Đai 2003 quy định12 trường hợp thu hồi đất. Luật Đất Đai 2013 phân ra 4 trường hợp thu hồi đất rấtrõ ràng từ điều 61 đến điều 65 như: thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh;thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồiđất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đấttheo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người;
Trong các quy định thuhồi đất có một số điểm mới như thu hồi do sử dụng đất không đúng mục đíchđã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạtvi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyểnnhượng, nhận tặng cho; đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định củaLuật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn chiếm; người sử dụngđất không thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và đã bị xử phạt viphạm hành chính mà không chấp hành.
Việc thu hồi đất do viphạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhànước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
Quy trình thu hồi đấtđược quy định rõ ràng và chú ý đến sự thông báo phổ biến đến từng người dân vàthông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Trường hợp người sử dụng đấttrong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,giải phóng mặt bằng trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì Ủy bannhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi vàtổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyếtphục để người sử dụng đất thực hiện. Việc vận động, thuyết phục người dân trongtrình tự thu hồi đất được quy định trong luật là một điểm mới, đề cao phươngpháp thuyết phục người dân chưa phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường.Phương pháp thuyết phục được quy định trước khi áp dụng cưỡng chế sẽ giảm thiểuđược thủ tục và chi phí cho việc cưỡng chế khi thu hồi đất và cũng là sự phổ biếnpháp luật đất đai đến người dân khi nhà nước thu hồi đất.
Việc cưỡng chế thu hồiđất được quy định rõ tại điều 71 là một điểm mới thể hiện sự công khai, dân chủđảm bảo trật tự, an toàn đúng quy định và đặc biệt thời điểm cưỡng chế được thựchiện trong giờ hành chính. Điểm mới là cưỡng chế chỉ được thực hiện khi đáp ứngđiều kiện quy định tại khoản 2 điều 71:
a) Người có đất thu hồikhông chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặttrận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục;
b) Quyết định cưỡng chếthực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhândân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;
c) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành;
d) Người bị cưỡng chếđã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lựcthi hành.
Trường hợp người bị cưỡngchế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết địnhcưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.
Đối với trình tự ,thủ tụcthực hiện cưỡng chế thu hồi đất có điểm mới là:
Ban thực hiện cưỡng chếvận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chếchấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việcbàn giao đất được thực hiện chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.
Việc bồi thường được thựchiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếukhông có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể củaloại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết địnhthu hồi đất.
Việc bồi thường khi Nhànước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thờivà đúng quy định của pháp luật.
Nguyên tắc hỗ trợ khiNhà nước thu hồi đất: theo điều 83- Luật Đất Đai 2013: a) Người sử dụng đấtkhi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật nàycòn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;
b) Việc hỗ trợ phải bảođảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.
Điều 77- Luật Đất Đai2013 quy định điểm mới: Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồmdiện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diệntích đất do được nhận thừa kế; b) Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mứcquy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng đượcbồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại. Như vậy, điểm mới của Luật Đất Đailà chỉ bồi thường trong hạn mức giao đất theo điều 129.
Theo điều 79 Luật ĐấtĐai thì . Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nướcngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điềukiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đấtthì được bồi thường như sau:
a) Trường hợp không cònđất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thìđược bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằngđất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;
b) Trường hợp còn đất ở,nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thườngbằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồithường bằng đất ở.
2. Hộ gia đình, cá nhânkhi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điềukiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nướcbán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.
Điểm mới về tách thửacũng đang là thắc mắc cho nhiều hộ gia đình ở cùng một thửa đất đã được quy địnhtheo khoản 2 điều 6 Nghị định 47/2014: Trường hợp trong hộ gia đình quy định tạiKhoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sốngtrên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đìnhriêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chungquyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứvào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mứcđất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.
Trong rất nhiều vụ kiệnmà luật sư tham gia có nhiều trường hợp tranh chấp về diện tích đất nông nghiệpkhông được công nhận là đất ở thì đã được quy định rất rõ ràng trong khoản5 Nghị định 47/2014: Trường hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nôngnghiệp không được công nhận là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi đượcchuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất đó sang đất ở trong hạnmức giao đất ở tại địa phương, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyểnmục đích sang đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quannhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụngđất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sửdụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Như vậy, quyền của hộ gia đình vềchuyển mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi sang đất ở đã được mở rộng và tạođiều kiện cho hộ gia đình cá nhân khi có nhu cầu chuyển mục đích sử dụngđất.
theo điều 82- Luật ĐấtĐai 2013:
Nhà nước thu hồi đấtkhông bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:
1. Các trường hợp quy địnhtại khoản 1 Điều 76 của Luật này;
2. Đất được Nhà nướcgiao để quản lý;
3. Đất thu hồi trongcác trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích và đã bị xử phạt hành chính , đấtđược giao, cho thuê không đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đất không đượcchuyển nhượng, tặng cho theo quy định của luật này và các trường hợp tự nguyệntrả lại đất theo khoản 1 Điều 65 của Luật này;
4. Trường hợp không đủđiều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sảnkhác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tạikhoản 2 Điều 77 của Luật này.
Các quy định về bồi thường,thu hồi đất đã nâng cao quyền của người dân, hộ gia đình và với cơ chế thu hồirõ ràng đã khắc phục những hạn chế của Luật Đất Đai 2003. Với các quy định mới,người dân được tiếp cận với những quy định mới đảm bảo quyền của người dân vànhững đảm bảo của nhà nước khi thu hồi đất. Luật Đất Đai 2013 được thực hiện sẽgiảm số lượng khiếu nại, khiếu kiện do đã có quy định rõ ràng và nâng cao hơn nữaquyền của cá nhân, hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất và được nhà nước bồithường, hỗ trợ khi thu hồi đất.
Luật Đất Đai 2013 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014. Luật mới đã khắc phục những điểm hạn chế chưa được quy định trong luật cũ và giải quyết được những vấn đề còn khó khăn trong thực tiễn về bồi thường và thu hồi đất.
Theo Điều 26, khoản 3 Luật Đất Đai 2013, 3. Khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật.
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.
2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;
b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Điểm mới so với Luật Đất Đai 2003 là trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất. Như vậy, nếu có quyết định thu hồi đất đối với cả tổ chức và cá nhân thì quyết định thu hồi thuộc UBND cấp tỉnh.
- Trình tự thông báo khi thu hồi đất có gì mới so với Luật Đất Đai 2003?
Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. Luật đất đai 2003 chỉ quy định thông báo cho người bị thu hồi biết lý do thu hồi, thời gian di chuyển, phương án tổng thể. Luật mới đã cụ thể hóa hơn và có sự tham gia của người dân vào kế hoạch khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, tránh các trường hợp không đồng ý về phương án đền bù khi thu hồi.
- Hỏi: Các trường hợp phải thu hồi đất có gì mới so với quy định của Luật Đất Đai 2003?
Luật Đất Đai 2003 quy định 12 trường hợp thu hồi đất. Luật Đất Đai 2013 phân ra 4 trường hợp thu hồi đất rất rõ ràng từ điều 61 đến điều 65 như: thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh; thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người;
Trong các quy định thu hồi đất có một số điểm mới như thu hồi do sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm; đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho; đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn chiếm; người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành.
Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
Quy trình thu hồi đất được quy định rõ ràng và chú ý đến sự thông báo phổ biến đến từng người dân và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện. Việc vận động, thuyết phục người dân trong trình tự thu hồi đất được quy định trong luật là một điểm mới, đề cao phương pháp thuyết phục người dân chưa phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường. Phương pháp thuyết phục được quy định trước khi áp dụng cưỡng chế sẽ giảm thiểu được thủ tục và chi phí cho việc cưỡng chế khi thu hồi đất và cũng là sự phổ biến pháp luật đất đai đến người dân khi nhà nước thu hồi đất.
Việc cưỡng chế thu hồi đất được quy định rõ tại điều 71 là một điểm mới thể hiện sự công khai, dân chủ đảm bảo trật tự, an toàn đúng quy định và đặc biệt thời điểm cưỡng chế được thực hiện trong giờ hành chính. Điểm mới là cưỡng chế chỉ được thực hiện khi đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 điều 71:
a) Người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục;
b) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;
c) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành;
d) Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành.
Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.
Đối với trình tự ,thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất có điểm mới là:
Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.
Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.
Nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: theo điều 83- Luật Đất Đai 2013: a) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;
b) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.
Điều 77- Luật Đất Đai 2013 quy định điểm mới: Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích đất do được nhận thừa kế; b) Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại. Như vậy, điểm mới của Luật Đất Đai là chỉ bồi thường trong hạn mức giao đất theo điều 129.
Theo điều 79 Luật Đất Đai thì . Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;
b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.
Điểm mới về tách thửa cũng đang là thắc mắc cho nhiều hộ gia đình ở cùng một thửa đất đã được quy định theo khoản 2 điều 6 Nghị định 47/2014: Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.
Trong rất nhiều vụ kiện mà luật sư tham gia có nhiều trường hợp tranh chấp về diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở thì đã được quy định rất rõ ràng trong khoản 5 Nghị định 47/2014: Trường hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất đó sang đất ở trong hạn mức giao đất ở tại địa phương, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyển mục đích sang đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Như vậy, quyền của hộ gia đình về chuyển mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi sang đất ở đã được mở rộng và tạo điều kiện cho hộ gia đình cá nhân khi có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất.
theo điều 82- Luật Đất Đai 2013:
Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:
1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;
2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;
3. Đất thu hồi trong các trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích và đã bị xử phạt hành chính , đất được giao, cho thuê không đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của luật này và các trường hợp tự nguyện trả lại đất theo khoản 1 Điều 65 của Luật này;
4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này.
Các quy định về bồi thường, thu hồi đất đã nâng cao quyền của người dân, hộ gia đình và với cơ chế thu hồi rõ ràng đã khắc phục những hạn chế của Luật Đất Đai 2003. Với các quy định mới, người dân được tiếp cận với những quy định mới đảm bảo quyền của người dân và những đảm bảo của nhà nước khi thu hồi đất. Luật Đất Đai 2013 được thực hiện sẽ giảm số lượng khiếu nại, khiếu kiện do đã có quy định rõ ràng và nâng cao hơn nữa quyền của cá nhân, hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất và được nhà nước bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất.
