TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
BẢN ÁN 20/2017/HNGĐ-PT NGÀY 07/08/2017 VỀ TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN CHUNG
Trong các ngày 12 tháng 7 và ngày 07 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử công khai phúc thẩm vụ án thụ lý số 14/2017/TLPT-HNGĐ ngày 13/3/2017 về “Tranh chấp chia tài sản chung
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 37/2016/HNGĐ-ST ngày 01/8/2016 của Toà án nhân dân huyện B bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 39/2017/QĐPT- HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị C, sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Lương Văn T, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1 Bà Ngô Thị Thu H, sinh năm 1965
3.2 Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1951
3.3 Ông Lương Văn L, sinh năm 1953
3.4 Anh Lương Văn Th, sinh năm 1980
Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.5 Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1966
3.6 Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 196
Cùng địa chỉ: Thôn 1, xã Đ 10, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
3.7 Anh Lương Văn Th1, sinh năm 1963
Địa chỉ: Thôn 3, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.8 Anh Lê Văn V, sinh năm 1972.
3.9 Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1972
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.10 Anh Lê Địa C, sinh năm 1983
3.11 Chị Lương Thị K, sinh năm 1984
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.12 Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1973.
3.13 Anh Lương Văn Q
3.14 Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1960
3.15 Chị Lương Thị T, sinh năm 1960
Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
3.16 Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam – Chi nhánh huyện B– Phòng giao dịch xã B.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Văn S– Giám đốc.
Địa chỉ: Thôn 4, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
3.17 Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Bình Phước
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê H - Chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ: Xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.18 Công ty TNHH MTV C
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Việt H
Địa chỉ: Huyện P, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.19 Ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1962
Địa chỉ: Thôn 6, xã Đ 10, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.20 Bà Phan Thị Thu H, sinh năm 1975
Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ 10, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.21 UBND huyện B, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh Bình – Chức vụ: Chủ tịch. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
4. Người kháng cáo: Bị đơn anh Lương Văn T; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn chị Lương Thị C trình bày:
Chị Lương Thị C và anh Lương Văn T chung sống từ năm 1995, đến ngày 10/10/2004 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (viết tắt UBND) xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quá trình chung sống vợ chồng tạo lập được khối tài sản như sau:
- Diện tích đất 01 ha trồng cao su năm 2006, tọa lạc Thôn 2, xã Đ 10, huyện B, tỉnh Bình Phước mua của ông Lê Văn V, hiện nay vợ chồng chị vẫn đang sử dụng.
- Diện tích đất khoảng 01 ha trồng cao su năm 2006, kết quả đo đạc 9999m2 tọa lạc Thôn 2, xã Đ 10, huyện B, tỉnh Bình Phước. Đất này là do ông Lương Văn L, bà Hoàng Thị L mua của ông B, sau đó bán đi một phần, phần còn lại cho anh Lương Văn Th sử dụng. Vợ chồng chị C, anh T có mua phần đất của vợ chồng ông Phạm Ngọc H, sau đó anh T và anh Th đổi đất cho nhau, cụ thể anh Th sử dụng phần đất của anh Hướng, anh T sử dụng một phần đất của anh Th mua từ ông B.
- Diện tích đất 18.018m2 tọa tại Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước, đất trồng điều, nguồn gốc là mua của chị Ngô Thị Thu H khoảng 3,4 ha sau đó chia cho anh Th 1,7 ha còn lại là của vợ chồng chị.
- Diện tích đất 882m2, trên đất có 01 căn nhà gỗ, hiện nay anh T đã xây dựng thêm căn nhà cấp 4, đất toạ tại Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Diện tích đất 15.017m2 tọa lạc tại Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước trên đất có cây điều.
- Tiền gửi tiết kiệm đứng tên anh T gửi Ngân hàng là 325.000.000 đồng, hiện nay còn lại 15.000.000 đồng gửi Ngân hàng. Chị C có gửi Ngân hàng số tiền 100.000.000 đồng và đã rút hết năm 2011.
- Số tiền cho người khác vay gồm:
+ Chị Lương Thị T cùng chồng Hoàng Văn T vay 100.000.000 đồng vào năm 2009 và chị T đã trả cho anh T. Anh T giữ số tiền này, chị C yêu cầu anh T chia đôi số tiền.
+ Anh Lê Địa C và chị Lương Thị K vay 50.000.000 đồng vào năm 2012, chị K và anh Cđã trả cho anh T. Anh T giữ số tiền này. Nay chị yêu cầu anh T chia đôi số tiền.
+ Anh Lương Văn Q và chị Hoàng Thị T vay 25.000.000 đồng vào năm 2011, hiện nay chưa trả.
Nguyện vọng của chị C sau khi ly hôn là được nhận diện tích đất 18.018m2 trồng điều tại Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước và diện tích đất 15.017m2 tại Thôn C, huyện B, tỉnh Bình Phước. Các tài sản khác thì giao cho anh T và nhận giá trị chênh lệch bằng tiền.
Về nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu giải quyết.
Đối với số tiền cho chị Lương Thị H vay 10.000.000 đồng và các tài sản khác như: Xe máy biển kiểm soát BS 93H5 – 0727; xe máy biển kiểm soát BS 93F6 – 4285, 03 cái quạt; 01 máy cưa; 01 máy phát cỏ và 01 máy khâu, yêu cầu vợ chồng ông L tính công sức đóng góp đối với diện tích đất 2,2 ha tại Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước, chị C rút yêu cầu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lương Văn T trình bày:
Anh T và chị C đăng ký kết hôn và là vợ chồng năm 2004, còn trước đó anh chị chỉ sống chung và đi lại với nhau chứ không phải là vợ chồng. Quá trình chung sống, vợ chồng có tài sản chung là diện tích đất 15.017m2 tọa lạc tại Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Các tài sản còn lại là của bố mẹ anh T là ông L, bà L chứ không phải là tài sản chung của vợ chồng như lời trình bày của chị C, chị C yêu cầu chia thì anh không đồng ý vì đó là tài sản của bố mẹ, chị C không có công sức đóng góp gì vì thời gian chung sống chị C chỉ đi chữa bệnh.
Đối với số tiền anh gửi Ngân hàng anh đã rút ra để trả tiền cho anh Lương Văn Th khi anh mua đất rẫy tại Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước nên anh không đồng ý chia cho chị C số tiền này. Đối với các số tiền cho người khác vay, anh thừa nhận anh đã thu hồi nợ nhưng số tiền trên anh đã đầu tư, chăm sóc vườn rẫy và chữa bệnh cho chị C, chỉ còn lại 50.000.000 đồng nên anh T chỉ đồng ý chia cho chị C 25.000.000 đồng.
Đối với số tiền 100.000.000 đồng chị C gửi Ngân hàng năm 2011 là tài sản chung của vợ chồng, anh T yêu cầu chị C chia đôi.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn L, bà Hoàng Thị L trình bày:
Đối với hai thửa đất có tổng diện tích khoảng 02 ha trồng cao su năm 2006 tọa lạc tại thôn 2, xã Đ 10, huyện B, tỉnh Bình Phước diện tích đất nói trên do ông L, bà Lmua năm 2001 của ông Nguyễn Văn B và vợ Phạm Thị M với tổng diện tích là 06 ha, sau đó bán đi còn lại khoảng 02 ha, còn diện tích đất 01 ha mua của anh Lê Văn V khi mua chưa có sổ đỏ, toàn thể thành viên trong gia đình đều làm chung, khi thu hoạch mủ cao su thì chia lô ra để khai thác mủ, anh Th cạo mủ một lô, anh T cạo một lô. Hiện nay vợ chồng ông bà chưa chia cho ai, đang sử dụng chung, đây là tài sản của ông bà. Do đó vợ chồng ông bà không đồng ý chia.
Thửa đất 1,7ha tọa lạc tại Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước trồng điều là do vợ chồng bà mua của chị Ngô Thị Thu H năm 2002 hoặc 2003, vợ chồng bà cùng anh T và anh Th đi mua. Khi mua đất có làm giấy tờ. Hiện nay vợ chồng ông bà chưa chia đất cho ai nhưng chia hoa lợi cho vợ chồng anh T và anh Th để thu hoạch. Đây là tài sản của vợ chồng nên không đồng ý chia.
Diện tích đất mặt đường 882m2 do ông bà mua của anh Lương Văn V vào khoảng tháng 3/1997 sau khi mua thì vợ chồng làm 01 căn nhà gỗ. Sau đó cho anh T để làm sổ đỏ vay vốn Ngân hàng làm ăn, và thỏa thuận nếu vợ chồng chị C, anh T chung sống thì cho vợ chồng anh T, chị C, nếu không sống chung thì không cho. Khi thỏa thuận không làm giấy tờ gì, không có người chứng kiến. Nay chị C yêu cầu ly hôn thì vợ chồng ông bà không đồng ý cho vì đây là tài sản của ông bà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lương Văn Th trình bày:
Ông L và bà Lcó tất cả 03 diện tích đất gồm: 01 diện tích đất khoảng 02 ha mua của ông B, 01 diện tích đất khoảng 01 ha mua của anh Hướng và 01 diện tích đất mua của ông V. Sau đó bố mẹ anh mới chia cho anh và anh T cạo mủ sinh sống cụ thể anh T quản lý phần đất mua của ông H và 01 ha đất mua của ông V; anh quản lý phần đất mua của ông B. Sau đó để tiện việc chăm sóc và cạo mủ anh và anh T đã đổi đất cho nhau, cụ thể anh quản lý một phần đất mua của ông B (phần đất giáp bưng) và phần đất mua của anh H, còn lại diện tích đất khác thì anh T quản lý. Toàn bộ diện tích đất nói trên chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Thu H trình bày:
Bà không có quan hệ bà con hay mâu thuẫn gì với anh T, chị C. Vào ngày 07/8/2003 bà có sang nhượng diện tích đất điều khoảng 2,5ha cho anh Lương Văn T. Tại thời điểm mua bán có ông Lương Văn L và anh Lương Văn T cùng xuống nhà, chị C không có mặt. Khi sang nhượng đất có làm giấy tờ và chữ viết trong giấy sang nhượng rẫy điều mà người mua đất là anh T do chị C cung cấp đúng là chữ viết của bà. Còn tờ giấy sang nhượng rẫy điều mà người mua đất là ông L do anh T cung cấp cho Tòa án là không phải. Bà khẳng định bà chỉ bán một diện tích đất rẫy cho anh T không bán diện tích đất nào cho ông L.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị N, ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Vợ chồng bà quen biết với vợ chồng anh T, chị C thông qua việc mua bán đất. Trước đây vợ chồng bà có một thửa đất với diện tích đất khoảng 04 ha tại Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước, trên đất có trồng cây điều. Đến ngày 03/5/2012 thì ông Đ đã sang nhượng toàn bộ diện tích đất nói trên cho anh Th1 và anh T, hai người này mua chung với giá 430.000.000 đồng. Khi mua bán đất không thông qua chính quyền địa phương, gia đình bà đã nhận đủ tiền, hiện nay không có bất cứ yêu cầu hay đề nghị gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn Th1 trình bày:
Ngày 03/5/2012 ông cùng với anh T có mua một mảnh đất khoảng 04 ha tọa lạc tại Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước của ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị N với giá 430.000.000 đồng. Khi mua đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi mua xong ông và anh T thỏa thuận chia đôi mảnh đất trên và đã cắm ranh giới cụ thể, hiện nay ông và anh T tự quản lý phần đất của mình, ông không có ý kiến gì về số diện tích đất và hình thể được ghi nhận trong bản đồ trích đo địa chính ngày 04/ 02/2013.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn V, bà Nguyễn Thị L
trình bày:
Ngày 16/12/2004 vợ chồng ông có bán cho vợ chồng anh T diện tích 01 ha tại Thôn 2, xã Đ 10, huyện B, tỉnh Bình Phước với giá 25.000.000 đồng, ông V là người viết giấy sang nhượng đất, viết bằng bút lông sau đó bị hết mực nên viết tiếp bằng bút bi. Tại thời điểm làm giấy thì có mặt chị C và vợ ông (chị L), nhưng chỉ có ông và anh T ký giấy. Còn chữ viết và chữ ký trong giấy sang nhượng đề ngày 30/11/2002 (âm lịch) không phải là của ông.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị T, anh Lương Văn Q trình bày:
Năm 2011 chị cùng với anh Lương Văn Q vay tiền anh T và chị C số tiền là 25.000.000 đồng, hẹn năm 2012 trả. Vợ chồng chị vay tiền của cả hai vợ chồng anh T, chị C. Nhưng đến nay vẫn chưa trả được.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T, bà Lương Thị T trình bày:
Năm 2009 ông và bà Lương Thị T có vay anh T số tiền là 100.000.000 đồng để làm nhà, không thỏa thuận lãi suất, thời hạn trả là khi nào anh T xây nhà thì gia đình ông sẽ hoàn trả số tiền này, khi vay không làm giấy tờ, khi ông nhận số tiền vay thì chị C không có ở nhà, số tiền cho vay là tiền chung hay tiền riêng thì ông
không biết nhưng hiện nay ông bà đã trả hết số tiền vay nói trên, khi trả có làm giấy tờ và có mặt cả hai vợ chồng anh T, chị C. Anh T là người nhận tiền.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Địa C, bà Hoàng Thị K trình bày:
Vợ chồng ông C, bà K là chỗ quen biết với anh T, chị C. Vào ngày 16/4/2012 (âm lịch) vợ chồng có vay của anh T, chị C số tiền 50.000.000 đồng, khi vay có lập giấy tờ vay cho anh T, chị C giữ, vay không thời hạn, không có lãi suất. Đến ngày 06/3/2013 (tức ngày 23/01/2013 âm lịch) vợ chồng ông C, bà K đã trả số tiền 50.000.000 đồng cho anh T, chị C, khi trả có làm giấy tờ anh T, chị C cùng ký nhận, anh T là người trực tiếp nhận tiền. Nay vợ chồng ôngC bà K đã trả hết nợ, nên không liên quan gì đến vụ án nữa, nên không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc H, bà Phan Thị
Thu H trình bày:
Vào ngày 19/05/2004 (âm lịch), ông bà có sang nhượng lại cho anh T một diện tích đất. Giấy sang nhượng vườn điều (bút lục 25) do bà H viết là đúng. Khi mua bán chỉ có mình anh T tham gia, nhưng ông bà nghe anh T nói là anh T mua hộ ông bà L, tiền mua đất là do cha mẹ anh T ngoài bắc gửi vào.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên Ban quản lý rừng phòng hộ B, huyện B, tỉnh Bình Phước – Do ông Bùi Xuân Q là người đại diện theo pháp luật trình bày:
Căn cứ vào Quyết định số 389/QĐ-UB ngày 19/3/2003 của UBND tỉnh Bình Phước về việc giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban quản lý rừng phòng hộ B; căn cứ Quyết định số 11/2007/QĐ-UBND ngày 19/3/2007 của UBND tỉnh Bình Phước về việc phê duyệt quy hoạch 03 loại rừng giai đoạn 2006 – 2010 thì vị trí thửa đất có diện tích 15.017,8m2 thuộc khoảnh 6, tiểu khu 118 Ban quản lý rừng phòng hộ (viết tắt Ban QLRPH) B thuộc đất lâm nghiệp RXY dưới sự quản lý của Ban QLRPH B. Ban QLRPH B không ký hợp đồng giao khoán với chủ hộ đang sử dụng (Hộ thuộc diện xâm canh trái phép đất lâm nghiệp). Việc chị C yêu cầu chia đôi diện tích đất trên là không đúng pháp luật vì UBND tỉnh Bình Phước đã cấp Giấy CNQSDĐ cho Ban QLRPH B. Như vậy đối với thửa đất 15.017,8m2 tọa lạc tại khoảnh 6 tiểu khu 118 thuộc Ban QLRPH B quản lý chủ hộ đang xâm canh không được quyền mua bán, sang nhượng trái phép. Đối với tài sản có trên đất lâm nghiệp như nhà, cây trồng Tòa án định giá chia theo luật định. Diện tích đất mà ông Lương Văn T và bà Lương Thị C đang sử dụng, tạm thời Ban QLRPH B giao cho ông T và bà C tiếp tục sử dụng. Khi nào có chủ trương thu hồi đất của Nhà nước thì hai đương sự trên phải trả lại cho Nhà nước.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ban quản lý rừng phòng hộ B1, huyện B, tỉnh Bình Phước – Do ông Lê Quang Ánh là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Diện tích đất 17.568m2 tại Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước thuộc khoảnh 5, tiểu khu 147; Diện tích đất 18.088m2 tọa lạc tại Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước thuộc khoảnh 8, tiểu khu 149; Diện tích đất 5.178m2 tọa lạc tại Thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước thuộc tiểu khu 147. Các diện tích đất nói trên đã bàn giao về địa phương quản lý, hiện nay không còn sự quản lý của Ban QLRPH B1.
Đối với diện tích đất 9.999m2 và diện tích đất 12.729m2 tọa tại Thôn 2, xã Đ 10, huyện B, tỉnh Bình Phước thuộc khoảnh 1, tiểu khu 137 dưới sự quản lý của Ban QLRPH B1. Hiện nay hai diện tích đất nói trên chưa có chính sách giao về địa phương quản lý, do cá nhân tự xâm canh trồng cây lâu năm, không có chính sách giao khoán hay ký hợp đồng giao khoán đất cho cá nhân. Nay xảy ra tranh chấp thì Ban quản lý có ý kiến như sau: Đối với đất vẫn thuộc sự quản lý của Ban QLRPH B1, đối với tài sản có trên đất (cây lâu năm) thì tạm giao cho cá nhân canh tác, sử
dụng, khi nào có chính sách thu hồi đất thì cá nhân đang quản lý, sử dụng phải bàn giao lại đất.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện B – Phòng giao dịch xã B do ông Võ Văn S là người đại diện theo pháp luật trình bày:
Ông Lương Văn T có gửi tại Ngân hàng số tiền là 325.000.000 đồng, theo hình thức gửi sổ tiết kiệm (03 sổ) cụ thể:
- Sổ thứ nhất có số sổ AL0880270, gửi ngày 01/3/2012, số tiền gửi là 200.000.000đ, đến ngày 22/10/2012 thì rút cả gốc và lãi là 213.438.500 đồng.
- Sổ thứ hai có số sổ AL 1049938, gửi ngày 04/5/2012 với số tiền là 110.000.000 đồng, đến ngày 22/10/2012 thì rút cả gốc lẫn lãi là 115.852.000 đồng;
- Sổ thứ ba có số sổ là AL 2297353, gửi ngày 24/7/2012 với số tiền là 15.000.000 đồng, hiện nay số tiền gửi tiết kiệm này vẫn chưa rút. Ngoài ra ông Thái không còn gửi tiết kiệm số tiền nào khác.
Ngày 15/6/2011 chị C có gửi số tiền 100.000.000đ, đã rút ra ngày 10/10/2011.
Tại Bản án hôn nhân gia đình số 37/2017/HNGĐ-ST ngày 01/8/2016 của Toà án nhân dân huyện B đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lương Thị C đối với bị đơn anh Lương Văn T về việc yêu cầu chia tài sản chung.
Xác định các tài sản gồm: Diện tích đất 12.729m2 và diện tích đất 9.999 m2 toạ lạc tại thôn 2, xã Đ 10, huyện B, diện tích đất 18.088m2 và diện tích đất mặt đường 20 x 50 mét, diện tích đất theo kết quả đo đạc là 882m2. Có 200m2 đất thổ cư toạ lạc tại thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước là tài sản chung của anh Lương Văn T và chị Lương Thị C.
Chia cho chị Lương Thị C được quyền sở hữu, quản lý và sử dụng diện tích đất 18.088m2 toạ lạc tại thôn 6, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Có tứ cận: Bắc giáp đường đất, Nam giáp suối, Đông giáp Điểu M, Đoàn Văn H, Tây giáp Lương Văn D. Đất chưa có giấy CNQSDĐ nhưng được quyền cấp GCNQSDĐ. Tài sản trên đất có 434 cây điều khoảng 11 đến 15 năm tuổi trị giá 506.464.000 đồng và chị Lương Thị C được quyền quản lý, sử dụng tài sản là 160 cây điều trồng năm 2008 và 120 cây điều trồng năm 2010 trên diện tích đất 15.017,8m2, trị giá 185.978.000 đồng. Tạm giao cho chị Lương Thị C được quản lý diện tích đất 15.017,8m2 tại Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Có tứ cận Bắc giáp ông A, Nam giáp ông Th1, Đông giáp ông H, Tây giáp ông H1, ông Th1, đất thuộc khoảnh 6, tiểu khu 118 do Ban quản lý rừng phòng hộ B quản lý. Chị C có trách nhiệm giao lại cho cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu thu hồi.
Giao diện tích đất 15.017,8m2 tọa lạc tại Thôn C, xã P, huyện B. Tứ cận Bắc giáp ông A, Nam giáp ông Th1, Đông giáp ông H, Tây giáp ông H1, ông Th1, đất thuộc khoảnh 6, tiểu khu 118 cho Ban quản lý rừng phòng hộ B quản lý.
Chị Lương Thị C được hưởng số tiền mặt 100.000.000 đồng mà chị C gửi Ngân hàng đã rút ra, tiêu xài.
Chị Lương Thị C được nhận từ anh Lương Văn T số tiền chênh lệch về chia tài sản chung là 157.851.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản chị C được hưởng là: 950.293.000 đồng.