Luật sư trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Gỉa sử bố mẹ ông A lần lượt là E và F
Giả sử tài sản ông A có được trong thời kỳ hôn nhân nên được chia đều cho vợ và chồng
A = B = 3 Tỷ
1. Trước khi chết ông A không để lại di chúc.
Vì ông A trước khi chết không để lại di chúc nên tài sản ( 3 Tỷ) của ông sẽ được chia thừa kế theo pháp luật thuộc Điều 649 Bộ luật dân sự 2015.
Theo Điểm a Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định:Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người cùng hàng thừa kế sẽ nhận được phần thừa kế bằng nhau.
=> B = C = D = E = F = 600 triệu.
2. Trước khi chết ông A để lại di chúc toàn bộ tài sản cho C.
Một suất thừa kế theo pháp luật tài sản của A = 3 Tỷ : 5 người = 600 tr
Theo quy định của Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.
Như vậy, mặc dù di chúc thì ông A để lại toàn bộ tài sản cho C, nhưng cả B,D,E,F đều là đối tượng hưởng ít nhất 2/3 của 1 suất thừa kế theo pháp luật.
=> B = D = E = F = 2/3 của 600 tr = 400 triệu
=> C = 3 Tỷ - (400 x 4) = 1.4 tỷ
Trả lời:
Tổng giá trị tài sản của ông A để lại là: 750 triệu+ 300 triệu= 1 tỷ 50 triệu đồng
Có thể thấy rằng trong di chúc của ông A thì bà B và hai người con là C, E không được hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên cần xem xét những đối tượng này có thuộc trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc hay không.
Theo quy định điều 644 Bộ luật dân sự 2015:
"Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động..".
Có thể thấy bà B là vợ nên thuộc trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. C và E đã thành niên và có khả năng lao động nên không thuộc trường hợp này.
Để xác định di sản mà bà B được hưởng sẽ chia toàn bộ di sản thừa kế theo pháp luật, theo đó sẽ chia đều cho 5 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là: mẹ ông A, bà B, C, D, E mỗi suất thừa kế= 210 triệu đồng.
Do ông A không cho hưởng di sản nên bà B sẽ được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật (210 x 2/3= 140 triệu đồng)
Như vậy, bà B sẽ được hưởng di sản là 140 triệu đồng; C và E không được hưởng di sản do không được thừa kế theo di chúc và cũng không thuộc trường hợp hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Trân trọng./.
Bây giờ em muốn nhờ pháp luật chia tài sản thừa kế này thì cần thực hiện những thủ tục gì?
Em xin trân thành cám ơn!
Trả lời:
Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Để chia thừa kế theo pháp luật, bạn cần thực hiện thủ tục khởi kiện chia tài sản thừa kế theo pháp luật.
+ Đơn khởi kiện (theo mẫu)
+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế.
+ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;
+ Bản kê khai các di sản;
+ Các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;
+ Các giấy tờ khác: biên bản giải quyết trong hộ tộc, biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn (nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản (nếu có).
Sau khi chuẩn bị xong hồ sơ, bạn gửi lên Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh nơi có di sản thừa kế.
Việc chia tài sản thừa kế theo pháp luật, sẽ căn cứ Bộ luật dân sự năm 2015:
“Ðiều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
Trân trọng cám ơn!
Nhưng từ ngày đo vẽ cho đến nay hơn 8 tháng vênh đo đạc họ nói chưa có kết quả còn tòa án thì nói cần có kết quả đo vẽ mới có thể giải quyết được. Trong hợp đồng không phải chữ ký của tôi mà là chữ ký giả mạo. Bao nhiêu ngày trôi qua tôi được biết bên mua đã hối lộ cho người làm việc để việc chậm lại kéo dài thời gian. Vì bởi trước đó họ đã nói riêng tư với tôi đề nghị tôi lấy 1 số tiền rồi về quê nhưng tôi nhất quyết không lấy tiền chỉ nhận lại đất vì thế nên họ kéo dài thời gian. Giờ tôi rất hoan mang không biết hướng đi hy vong luật sư chỉ hướng cho tôi nên làm gì ?. Vì bên đo đạc họ nói chưa có kết quả đo vẽ.
Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin cảm ơn !
Trả lời:
Ở đây là bạn được trả phần thừa kế đất và được tòa án Thốt Nốt TP Cần Thơ thụ lý và đã giải quyết để hưởng phần thừa kế đó . Nhưng vấn đề ở đây là bạn có hợp đồng mua bán đất nhưng không phải chữ của bạn mà là chữ ký giả mạo. Do đó theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
Điều 122. Giao dịch dân sự vô hiệu
Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.
Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Điều 124. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu
Điều 125. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
1. Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.
Như vậy, do hợp đồng không có chữ ký của bạn tức là bạn không tự nguyện tham gia giao dịch này nên giao dịch dân sự đó bị coi là vô hiệu. Mảnh đất bạn được thừa kế sẽ vẫn thuộc về bạn. Để xác nhận hợp đồng trên vô hiệu bạn cần làm đơn đến Tòa án nơi có mảnh đất để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu
Để khắc phục tình trạng chậm trễ trong đo đạc, bạn cần cần phải làm đơn nên cơ quan địa chính nơi có mảnh đất để cơ quan địa chính có trách nhiệm tốt hơn.
Ngôi nhà này xây từ thời ông bà cố (tức là ba mẹ chồng của bà ngoại tôi). Ông bà cố có 3 người con. Một là ông ngoại X có 3 người con A, B, C, Hai là bà Y có 2 người con trai là D và E, ba là bà Z. Sau này ông cố mất, bà cố lúc tuổi già đã lập di chúc trong việc phân chia tài sản như sau:
Người A: "cái nhà trên, cháu đích tôn là người thừa kế gia đình này".
Người B: "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được".
Người C: "2 phòng, phòng để Tivi và phòng kế nhà bếp". Bà ngoại (vợ ông X): "1 phòng".
Người D & E: "3 phòng để gạo cám có khoá".
Trích nguyên văn như sau: "Nay tôi làm tờ di chúc này là do chồng tôi đã nói lại khi chồng tôi đã nhắm mắt và cũng theo lời hứa của chồng, sau khi tôi nhắm mắt xin các nhân chứng và chính quyền địa phương xác nhận đúng trong tờ di chúc". Tờ di chúc thể hiện ngày 02/12/1995. Có dấu tay của bà cố, có người làm giấy và nhân chứng, không có con dấu xác nhận của chính quyền địa phương tại thời điểm đó. Lưu ý một chỗ là người làm chứng lại ký tên và ghi thời điểm là ngày 03/12/1995. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện tại do bà ngoại tôi là vợ ông X đang đứng tên (đất Hộ gia đình, nguồn gốc: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất). Thời điểm cấp Giấy chứng nhận là ngày 16/03/2009.
Tôi có một số câu hỏi như sau:
1. Di chúc có hợp lệ không? Trong trường hợp không có chính quyền địa phương xác nhận cũng như thời điểm người làm chứng không đúng với thời điểm lập di chúc.
2. Tài sản sẽ được phân chia như thế nào nếu nhà bị sập hoặc đập nhà?
3. Trong trường hợp không thoả thuận được việc phân chia thừa kế, ông B là người được chia "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được" có được quyền quyết định diện tích của mình không? Bởi vì di chúc ghi không rõ ràng diện tích nên không xác định được. " Muốn cất nhà chỗ nào cũng được" không đồng nghĩa "tất cả chỗ ấy là của mình". Tổng diện tích lô đất gần 900 m2.
4. Người D & E có thực sự được chia không?
5. Trong trường hợp bà ngoại vợ ông X mất mà chưa làm thủ tục di chúc thì tài sản được phân chia như thế nào? Hoặc nếu bản gốc tờ di chúc bị thất lạc hoặc bị mối mọt không còn nguyên vẹn. Nếu gia đình anh em với nhau mà thoả thuận phân chia được hoặc di chúc ghi rõ diện tích thì có lẽ tranh chấp không xảy ra, nhưng hiện tại ông B đòi chia phần diện tích của bản thân, ông D & E đòi hơn thứ mình thực sự có. Bà tôi hiện tại giờ cũng đã 70 tuổi, cũng không biết chia như thế nào để các con vừa lòng.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trả lời:
Thứ nhất: Trong trường hợp không có chính quyền địa phương xác nhận cũng như thời điểm người làm chứng ký không đúng với thời điểm lập di chúc thì di chúc có hợp lệ không?
Theo Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về di chúc hợp pháp như sau:
1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Với quy định trên, một di chúc được coi là hợp pháp mà không được công chứng chứng thực nếu có đẩy đủ các điều kiện:
+ Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép
+ Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật
Đồng thời đối với chủ thế lập di chúc phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 2, khoản 3 Điều này nếu thuộc các trường hợp trên.
Theo thông tin bạn cung cấp, bà cố bạn có để lại di chúc được lập vào ngày 2/12/1995, hình thức di chúc được lập bằng văn bản và có chữ ký của người làm chứng, có dấu vân tay của bà cố bạn và không được công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, người làm chứng lại ký vào ngày 3/12/1995.
Căn cứ Điều 656 Bộ luật dân sự quy định di chúc bằng văn bản có người làm chứng:
“Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của Bộ luật này”.