Các hình thức xử phạt vợ chồng ngoại tình
Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 07 năm 2020 Chính phủ ban hành quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
- Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
- Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;
- Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;
- Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.
- Xử lý hình sự hình sự: Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
- Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
- Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.
Cơ sở pháp lý: Điều 182, Bô luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Khi nào bằng chứng ngoại tình có giá trị pháp lý
Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019) chứng cứ phải đáp ứng các tính chất sau để được xem là hợp pháp:
- Được thu thập theo đúng trình tự thủ tục quy định, bởi người có thẩm quyền;
- Các chứng cứ do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp phải là những gì có thật, khách quan và phải liên qua đến vụ án
- Với một số trường hợp; chứng cứ mà đương sự cung cấp phải là bản sao y, công chứng, trích sao; sao lục; hoặc do một tổ chức thứ 3 (ví dụ, Thừa phát lại) cung cấp. Hình thức của chứng cứ cũng là cơ sở để đảm bảo tính khách quan; tính có thật.
Cơ sở pháp lý: Điều 93,94 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Cách thu thập bằng chứng ngoại tình của vợ, chồng.
Hiện nay có rất nhiều loại cách thức thu thập bằng chứng để chứng minh vợ hoặc chồng đang ngoại tình. Sau đây bài viết cung cấp cho Quý bạn đọc những hình thức thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật.
- Tự mình phát hiện và tự người đang ngoại tình thừa nhận.
Cách thức thu nhập này được chấp nhận và các chứng cứ khách quan có thể được coi là chứng cứ hợp pháp chứng minh vợ/chồng bạn ngoại tình. Bằng việc theo dõi các thiết bị di động và các phương thức khác như tin nhắn, zalo, thư từ, hành vi,…….
Phương thức này là việc yêu cầu một cá nhân, chủ thể thực hiện thu thập chứng cứ theo yêu cầu của mình.
- Dùng các thiết bị quay lén, nghe lén.
Đây là được xem là phương thức phổ biến hiện nay, nhưng theo pháp luật hiện nay việc dùng các thiết bị này không được công nhận vì nó xâm phạm quyền riêng tư của người khác. Ngoài ra, các thiết bị này là đồ dụng điện tử nên sẽ rất dễ phát hiện đây là một điểm bất cập lớn. Nếu để các thiết bị này được pháp luật thừa nhận cần phải tuân thủ theo thủ tục tố tụng.
Trên đây là thông tin về cách thức thu nhập bằng chứng ngoại tình. Nếu có thắc mắc hoặc muốn tìm hiểu thêm về những vấn đề liên quan hoặc cần được luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình, Quý khách vui lòng liên hệ :
Đc 2: 64 Võ Thị Sáu, Phường Tân Định, Quận 1,TP.HCM
Chi nhánh tại Biên Hòa: 5/1 Nguyễn Du, Quang Vinh,Biên Hoà, Đồng Nai.
-Luật Sư Trần Minh Hùng-Trưởng văn phòng
Tel: 0972238006 (zalo-viber) 028.38779958