Nợ chung trong thời kỳ hôn nhân được hiểu là những khoản nợ phát sinh từ giao dịch của vợ chồng hoặc những khoản nợ đứng tên một trong hai bên vợ hoặc chồng sử dụng vì mục đích chung cho gia đình, con cái.
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có các nghĩa vụ chung về tài sản như sau:
“Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Vợ, chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
Cùng với đó, tại khoản 20, Điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.”
Do đó, nợ chung của vợ chồng phát sinh không nhất thiết phải cần hai bên cùng thỏa thuận xác lập mà có thể do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình, từ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường…
Nợ chung trong thời kỳ hôn nhân được hiểu là những khoản nợ phát sinh từ giao dịch của vợ chồng hoặc những khoản nợ đứng tên một trong hai bên vợ hoặc chồng sử dụng vì mục đích chung cho gia đình, con cáiĐối với khoản nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì hai bên phải cùng có nghĩa vụ chịu trách nhiệm liên đới theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
“Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng
Sau khi ly hôn, các khoản nợ chung của vợ, chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực. Hai bên phải cùng tiếp tục chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bên thứ ba. Hai bên có thể thỏa thuận cùng với chủ nợ để giải quyết khoản nợ đó. Nếu không thỏa thuận được thì khi Tòa án nhận định đó là khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đó sẽ chia đôi, mỗi bên phải trả một phần.
“Điều 60 . Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn.
Ngược lại, các khoản nợ do một bên xác lập được coi là nợ riêng của vợ, chồng thuộc các trường hợp sau đây:
Đối với khoản nợ riêng này, người xác lập có nghĩa vụ trả toàn bộ khoản nợ, không được dùng tài sản chung của vợ, chồng để thanh toán cho những khoản nợ này.
Điều 6 và khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: Đương sự có quyền, nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án, chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Như vậy, khi có tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ, bên có yêu cầu chứng minh được việc vay tiền để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình như: Ăn ở, học hành, chữa bệnh,… thì Tòa án có thể quyết định đó là nợ chung, vợ chồng có trách nhiệm trong việc trả nợ.
Xác định nợ riêng nợ chung của vợ chồng như thế nào?Luật sư Thông là một trong những Công ty luật uy tín tại Bình Dương, với đội ngũ Luật sư giỏi, nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến hôn nhân và gia đình cùng với đội ngũ chuyên viên làm việc tận tâm và chuyên nghiệp, hỗ trợ với khách hàng nhiệt tình, hoàn thành công việc theo yêu cầu của quý khách hàng.
Đến với Luật sư Thông, Quý khách hàng sẽ nhận được các dịch vụ nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí, hiệu quả, thông qua quy trình sau:
Căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
Như vậy, ở đây nếu người vợ chứng minh được việc chồng đứng ra vay tiền đi đánh bạc thì người vợ không có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định thì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung.
Nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Như vậy, vợ chồng ly hôn khi còn nợ chung hoàn toàn có quyền thỏa thuận, định đoạt về việc chia hay không chia, chia một phần hay toàn bộ khối tài sản chung của mình trong thời kỳ hôn nhân.
Hiện nay, pháp luật luôn đề cao sự thỏa thuận, ý chí của các bên.
Trường hợp nếu các bên không thể tự giải quyết, thỏa thuận với nhau thì có thể yêu cầu đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án giải quyết.
LS TRẦN MINH HÙNG TƯ VẤN LUẬT TRÊN TRUYỀN HÌNH TPHCM