Sau khi Tòa án tuyên bản án dân sự sơ thẩm, nhiều người dân băn khoăn liệu mình có quyền kháng cáo hay không, điều kiện kháng cáo bản án dân sự là gì và quá 15 ngày kháng cáo thì còn cơ hội nào nữa không. Thực tế cho thấy, không ít trường hợp kháng cáo bị trả lại đơn không phải vì nội dung không có căn cứ, mà do không đúng chủ thể, quá thời hạn hoặc nộp sai nơi có thẩm quyền.
Theo quy định pháp luật, người dân có quyền kháng cáo bản án dân sự trong những trường hợp nhất định, với điều kiện phải là người được kháng cáo, thực hiện trong thời hạn kháng cáo (thông thường là 15 ngày) và sử dụng mẫu đơn kháng cáo hợp lệ, nộp đúng Tòa án có thẩm quyền. Chỉ cần sai một trong các yếu tố này, quyền kháng cáo có thể bị mất, khiến bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
Kháng cáo bản án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của đương sự và các chủ thể có quyền theo quy định của pháp luật, nhằm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm khi cho rằng bản án đó chưa khách quan, chưa đúng pháp luật hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Theo thực tiễn giải quyết án, kháng cáo không chỉ là quyền mà còn là cơ hội cuối cùng trong tố tụng thông thường để sửa chữa sai sót của bản án sơ thẩm trước khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Việc kháng cáo được pháp luật ghi nhận nhằm bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, cụ thể:
Khi không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần nội dung bản án sơ thẩm, người kháng cáo có quyền yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Tòa án cấp phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm nếu phát hiện sai lầm trong việc áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ hoặc vi phạm thủ tục tố tụng.
Trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc việc giải quyết vụ án chưa làm rõ bản chất sự việc, Tòa án phúc thẩm có thể hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ xét xử lại.
Mỗi vụ án dân sự chỉ được xét xử theo thủ tục phúc thẩm một lần duy nhất. Sau phúc thẩm, bản án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp bị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Người kháng cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc chỉ kháng cáo một phần nội dung cụ thể (ví dụ: phần bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ thanh toán, án phí...).
Kháng cáo chỉ được xem xét nếu đơn kháng cáo hợp lệ, nộp đúng nơi có thẩm quyền và trong thời hạn luật định.
Bản án dân sự sơ thẩm bị kháng cáo khi:
Đương sự hoặc người có quyền kháng cáo không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần bản án;
Viện Kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị;
Đơn kháng cáo được nộp trong thời hạn luật định hoặc được chấp nhận kháng cáo quá hạn.
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các chủ thể sau có quyền kháng cáo:
Bao gồm:
Nguyên đơn;
Bị đơn;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền hợp pháp.
Trong trường hợp khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm nếu phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án.
Lưu ý: Quyền kháng cáo chỉ phát sinh khi chủ thể không đồng ý với nội dung bản án sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên tòa: 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa: 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
Nếu quá thời hạn trên, người kháng cáo phải làm đơn xin kháng cáo quá hạn và chứng minh được lý do chính đáng (ốm đau, sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan...). Việc chấp nhận hay không thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm.
- Cơ sở pháp lý: Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Để kháng cáo được Tòa án chấp nhận, cần đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
Người làm đơn phải thuộc một trong các chủ thể có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Đơn kháng cáo phải được nộp trong thời hạn 15 ngày hoặc được chấp nhận kháng cáo quá hạn.
Một số căn cứ thường gặp trong thực tiễn gồm:
Không đồng ý với nhận định của Tòa án sơ thẩm;
Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;
Việc áp dụng pháp luật chưa đúng;
Có chứng cứ mới quan trọng có thể làm thay đổi nội dung vụ án.
(Theo Mẫu số 54-DS ban hành kèm theo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán)
ĐƠN KHÁNG CÁO
Kính gửi: Tòa án nhân dân ……………………………
[Giữ nguyên nội dung mẫu đơn số 54-DS ban hành kèm theo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán]
Hồ sơ kháng cáo thông thường gồm:
Đơn kháng cáo hợp lệ;
Bản sao giấy tờ tùy thân;
Tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có);
Giấy ủy quyền (nếu kháng cáo thông qua người đại diện);
Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Soạn thảo đơn kháng cáo đúng mẫu, thu thập chứng cứ và giấy tờ liên quan.
Hồ sơ kháng cáo được nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu chính đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm.
Thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự theo thông báo của Tòa án.
Không nên kháng cáo hình thức, cảm tính;
Cần tập trung vào căn cứ pháp lý và chứng cứ;
Kháng cáo không làm đình chỉ thi hành án nếu bản án được thi hành ngay;
Nên tham vấn luật sư để đánh giá khả năng kháng cáo thành công.
Theo quy định tại Điều 24 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung) và các văn bản hướng dẫn hiện hành ở Việt Nam: