Notice: fwrite(): write of 182 bytes failed with errno=122 Disk quota exceeded in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 53 Kỹ năng tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa cho bị can, bị cáo - Luật sư chuyên tranh tụng hình sự

Kỹ năng tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa cho bị can, bị cáo

0đ
Mã Tư Vấn Pháp Luật:
Tình trạng:
Còn hàng

Kỹ năng tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa cho bị can, bị cáo
  • TRANGTINPHAPLUAT.COM giới thiệu bài viết kỹ năng tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án hình sự.

1.Khái niệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

1.1. Người tạm giữ.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang; người tự thú, đầu thú và người bị bắt theo lệnh truy nã.

Trước đây luật có ghi nhận người bị tạm giữ là người bị bắt ở trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang. Đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp đều phải tạm giữ, còn những trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng ít nghiêm trọng lại có nơi cứ trú rõ ràng thì không cần thiết phải tạm giữ mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Ngoài trường hợp người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, Luật mới còn quy định người phạm tội ra đầu thú cũng có thể bị tạm giữ. Đối với người đầu thú với những hành vi phạm tội nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tùy từng trường hợp cụ thể các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc đó là tạm giữ. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định những người bị bắt theo lệnh truy nã cũng phải tạm giữ.

Trong trường hợp bản thân người bị tạm giữ hoặc người nhà của họ đến Trung tâm TGPL yêu cầu cử luật sư, nhờ người đại diện, bào chữa thì Trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư là cộng tác viên có thể tham gia ngay từ khi bị tạm giữ.

1.2. Bị can

Bị can là người đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hình sự.

Một người trở thành bị can khi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với người đó. Bị can có quyền năng và nghĩa vụ pháp lý do luật định, có quyền đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu, được quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình và có trách nhiệm chấp hành, tuân thủ các quy định của nhà tạm giam…Bị can chịu sự cưỡng chế về mặt pháp lý đối với họ, nếu họ không bị khởi tố bị can thì các biện pháp cưỡng chế đối với họ không bị áp dụng trừ trường hợp đặc biệt.

Kỹ năng tham gia bào chữa trong vụ án hình sự

1.3. Bị cáo

Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Bị can chuyển thành bị cáo sau khi Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử trên cơ sở nghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án, kết luận của cơ quan điều tra, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị can.

Bị cáo có quyền đưa ra chứng cứ và các yêu cầu, có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình, đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo luật định, có quyền nói lời cuối cùng sau khi nghị án, có quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án, bị cáo có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng v.v.

Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư có vai trò quan trọng trong việc tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và các đương sự là người được trợ giúp pháp lý, góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho họ; đồng thời giúp cho cơ quan điều tra, truy tố, xét xử được khách quan, chính xác, công bằng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý, luật sư có trách nhiệm sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Để thực hiện bào chữa cho bị can, bị cáo, người bào chữa phải biết được quyền và nghĩa vụ của mình (Điều 58 BLTTHS 2003); quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ (Điều 48), bị can (Điều 49), bị cáo (Điều 50), của cơ quan tiến hành tố tụng, của những người tham gia vụ án và những nguyên tắc của hoạt động tố tụng hình sự.

Đối với người bị hại (bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do phạm tội gây ra), Trợ giúp viên pháp lý, luật sư tham gia với tư cách là người đại diện, có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp theo quy định của pháp luật để làm rõ sự thật và giúp người bị hại về mặt pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích cho họ.

Thành công của Trợ giúp viên pháp lý, luật sư tham gia tố tụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố (kỹ năng): Giao tiếp với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; khả năng điều tra, xác minh thu thập chứng cứ; gặp gỡ người làm chứng; nghiên cứu hồ sơ, tiếp xúc với các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án;  chuẩn bị bài bào chữa và đề cương luận cứ bảo vệ; cư xử đúng mực với người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng; năng lực tham gia tranh tụng và kỹ năng hùng biện tại phiên toà.

  1. Kỹ năng tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Điều tra vụ án hình sự là hoạt động tố tụng do Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra và Điều tra viên tiến hành nhằm phát hiện, thu thập, củng cố chứng cứ chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội để đề nghị truy tố, xét xử trước Toà án.

Trợ giúp viên pháp lý, luật sư tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can là người được trợ giúp pháp lý. Thực tiễn cho thấy sự tham gia của Trợ giúp viên pháp lý, luật sư vào giai đoạn điều tra sẽ góp phần hạn chế các vi phạm pháp luật, bảo đảm cho hoạt động điều tra được tiến hành khách quan, toàn diện, chính xác đúng quy định của pháp luật. Yêu cầu đặt ra đối với Trợ giúp viên pháp lý, luật sư trong giai đoạn điều tra là phải sử dụng mọi biện pháp theo quy định của pháp luật để làm sáng tỏ vụ án để bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho người được trợ giúp pháp lý.

Trong giai đoạn điều tra, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần thực hiện một số kỹ năng sau đây:

– Làm thủ tục tham gia tố tụng trong vụ án hình sự.

– Gặp gỡ, tham gia lấy lời khai của bị can, người bị tạm giữ để tìm hiểu sự thật khách quan của vụ án. Kiểm tra có dấu hiệu vi phạm pháp luật không?

– Nắm vững và củng cố các chứng cứ chứng minh thân chủ là vô tội hay tình tiết giảm nhẹ cho thân chủ.

– Hiểu được mong muốn, nguyện vọng của thân chủ, người bị tạm giữ; giải thích pháp luật, chuẩn bị tâm lý cho bị can, người bị tạm giữ.

– Thống nhất định hướng bào chữa, bảo vệ cho người được trợ giúp pháp lý.

2.1. Kỹ năng của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư làm thủ tục tham gia tố tụng vụ án hình sự

Theo Khoản 1 Điều 58, Khoản 1 Điều 59 Bộ luật tố tụng hình sự, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền tham gia từ giai đoạn điều tra. Luật sư có quyền tham gia từ khi có quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia.

Để được tham gia tố tụng, bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý với tư cách là người đại diện hợp pháp, xác lập các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư được cử tham gia tố tụng phải làm các thủ tục cần thiết để được cơ quan điều tra cấp Giấy chứng nhận người bào chữa. Trước hết, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư cần chuẩn bị đầy đủ các tài liệu cần thiết để đề nghị Cơ quan điều tra cấp Giấy chứng nhận bào chữa (nếu bào chữa cho bị can), cấp Giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi của đương sự (nếu bảo vệ cho người bị hại và đương sự khác). Theo Khoản 4 Điều 39 Luật trợ giúp pháp lý, để được cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần chuẩn bị các giấy tờ, tài liệu sau:

a) Thẻ Trợ giúp viên pháp lý, Thẻ luật sư, Thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý;

b) Quyết định của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước (Trưởng Chi nhánh) cử Trợ giúp viên pháp lý, hay Luật sư là cộng tác viên tham gia tố tụng.

Trường hợp luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo pháp luật về luật sư hoặc tham gia trợ giúp pháp lý trong phạm vi Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân tham gia trợ giúp pháp lý thì thì luật sư phải chuẩn bị các loại giấy tờ, tài liệu theo quy định của pháp luật về luật sư và pháp luật tố tụng hình sự.

Theo Khoản 2 Điều 39 Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong thời hạn 3 ngày (đối với trường hợp người bị tạm giữ, thời hạn này là 24h), kể từ ngày nhận được Quyết định cử người tham gia tố tụng của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hay Trưởng Chi nhánh của Trung tâm, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, cấp Giấy chứng nhận tham gia tố tụng cho Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư để thực hiện việc bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho người được trợ giúp pháp lý. Nhưng để được tham gia tố tụng kịp thời, trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định cử tham gia tố tụng, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư phải đến cơ quan điều tra xuất trình đầy đủ các giấy tờ nói trên và đề nghị Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng để thực hiện bào chữa, bảo vệ theo quy định của pháp luật tố tụng.

Tuy nhiên, thực tế thời hạn này thường bị kéo dài hơn do nhiều lý do khách quan và chủ quan. Trong thực tiễn tố tụng hình sự có lý do khách quan như: do sức ép công việc, điều tra viên phụ trách nhiều vụ án, Cơ quan điều tra chưa phân loại, xác minh được lý lịch của bị can … nên chưa thể hoàn tất hồ sơ trong thời hạn 3 ngày để trình Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp Giấy chứng nhận người bào chữa. Cũng có lý do chủ quan là các điều tra viên chưa muốn sự có mặt tham gia sớm của Trợ giúp viên pháp lý, luật sư nên thường viện lý do Thủ trưởng đi vắng, chưa trình ký được giấy chứng nhận tham gia tố tụng. Vì vậy, trong trường hợp cơ quan điều tra chậm cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần tìm hiểu rõ nguyên nhân của sự chậm trễ, đề xuất ý kiến với Trung tâm trợ giúp pháp lý để tác động hoặc trực tiếp đề nghị cơ quan điều tra một cách mềm mỏng, tránh quá bức xúc, khiếu nại, gây căng thẳng ảnh hưởng không tốt đến quá trình tham gia tố tụng sau này.

Khi được cấp Giấy chứng nhận người bào chữa hoặc Giấy chứng nhận người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, địa vị pháp lý tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư chính thức được xác lập; Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Để được tham gia vào giai đoạn điều tra, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần gặp gỡ, trao đổi với Cơ quan điều tra về những công việc dự định sẽ tham gia trong giai đoạn này.

2.2. Kỹ năng tham gia lấy lời khai của người bị tạm giữ và hỏi cung bị can và các hoạt động điều tra khác

Khoản 2 Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định người bào chữa có quyền: Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi cung người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa; Đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can.

Sau khi được cấp Giấy chứng nhận người bào chữa, luật sư cần gặp gỡ, trao đổi với Điều tra viên điều tra vụ án để biết kế hoạch làm việc của Điều tra viên đối với bị can là người được trợ giúp pháp lý, đề nghị được có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can. Cần giữ liên lạc với Văn phòng Cơ quan điều tra, Điều tra viên để biết được lịch hỏi cung, thay đổi lịch hỏi cung của Điều tra viên. Trợ giúp viên pháp lý, luật sư cố gắng đạt được thỏa thuận trước với Điều tra viên về thời gian tham gia lấy lời khai, hỏi cung để bố trí thời gian tham gia.

Sau khi biết kế hoạch hỏi cung, lấy lời khai của Điều tra viên, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư cần nghiên cứu và lập kế hoạch cụ thể tham gia hỏi cung, chuẩn bị các câu hỏi đối với người tạm giữ, bị can để làm rõ những vấn đề mà Trợ giúp viên pháp lý, luật sư đã dự liệu trước. Trong trường hợp lấy lời khai của người được trợ giúp pháp lý tại Nhà tạm giữ, Trại tạm giam, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư cần khẩn trương làm thủ tục cần thiết cùng với Điều tra viên để kịp thời có mặt tham gia buổi lấy lời khai, hỏi cung.

Trong quá trình tiếp xúc với người được trợ giúp pháp lý, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư cần giúp đỡ pháp lý cho họ: Giới thiệu về mình, nhiệm vụ của Trợ giúp viên pháp lý, luật sư và hướng dẫn các quyền của người bị tạm giữ, bị can…. Trong quá trình Điều tra viên lấy lời khai, hỏi cung, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư phải lắng nghe và ghi chép các câu hỏi của Điều tra viên và câu trả lời của bị can; đặt các câu hỏi khi được Điều tra viên đồng ý, tập trung làm rõ những điểm mấu chốt của vụ án, đặc biệt những điểm chưa rõ, có mâu thuẫn về chứng cứ, làm rõ vị trí, vai trò của bị can trong vụ án, tình tiết giảm nhẹ, động cơ, mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội theo hướng có lợi cho bị can.

Trong trường hợp điều tra viên đặt những câu hỏi có tính mớm cung hoặc bức cung đối với người được trợ giúp pháp lý thì Trợ giúp viên pháp lý, luật sư không nên phản ứng gay gắt với Điều tra viên bởi làm mất hay hạ thấp uy tín của Điều tra viên trước mặt người bị tạm giữ, bị can là điều tối kỵ. Trong trường hợp này, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư cần khéo léo, tế nhị xin phép đặt những câu hỏi cho người được trợ giúp pháp lý để phản bác lại câu hỏi của Điều tra viên.

Trong quá trình hỏi cung, lấy lời khai nếu phát sinh vấn đề tình tiết mới có lợi cho thân chủ, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư có thể đề xuất Điều tra viên hỏi hoặc đề nghị được hỏi bổ sung để làm rõ các vấn đề của vụ án. Khi gần kết thúc buổi hỏi cung, lấy lời khai, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần hướng dẫn người bị tạm giữ, bị can đọc lại biên bản lấy lời khai, bản cung, đính chính (nếu có) và ký tên vào các trang của bản ghi lời khai, bản cung, vào chữ cuối của dòng cuối cùng của biên bản và gạch chéo phần giấy trống còn lại không có chữ. Khi được tham gia lấy lời  khai, hỏi cung bị can, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư phải giữ bí mật điều tra theo qui định của pháp luật.

Khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư không chỉ được tham gia buổi lấy lời khai, hỏi cung người bị tạm giữ, bị can mà còn được quyền tham gia vào các hoạt động điều tra khác như thực nghiệm điều tra, khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, kê biên tài sản, khám xét chỗ ở, địa điểm, đối chất, nhận dạng v.v. Khi Trợ giúp viên pháp lý, luật sư nắm được kế hoạch thực hiện các hoạt động điều tra của Điều tra viên, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư cần sắp xếp thời gian tham dự để hiểu rõ hơn các tình tiết có liên quan đến bản chất của vụ án.

Khi tham gia tố tụng từ giai đoạn điều tra, nếu Trợ giúp viên pháp lý, luật sư nhận thấy cần thiết phải trưng cầu giám định, giám định lại, giám định bổ sung hoặc đối chất, khai quật tử thi, thu thập đồ vật, bảo quản vật chứng, dấu vết… thì Trợ giúp viên pháp lý, luật sư cần có văn bản đề nghị cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động đó và yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp cho mình kết quả giám định theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động điều tra này, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần chú ý quan sát, phát hiện để thu được nhiều thông tin nhất về vụ án. Trong một số vụ án có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường thiệt hại, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư đề nghị được tham gia hoà giải. Tham gia vào các hoạt động điều tra này, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư có điều kiện giám sát hoạt động của những người tiến hành tố tụng, bảo đảm cho cơ quan điều tra, Điều tra viên phải thực hiện công việc theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định và kịp thời phát hiện ra những sai sót của cơ quan điều tra (nếu có), trên cơ sở đó kiến nghị kịp thời với cơ quan điều tra, Điều tra viên khắc phục để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý nói riêng và bảo vệ pháp chế nói chung.

2.3. Kỹ năng tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi với bị can, bị cáo

2.3.1. Gặp gỡ, tiếp xúc với bị can, bị cáo tại ngoại

Người được trợ giúp pháp lý là bị can, bị cáo được tại ngoại có nghĩa là không bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế tự do. Trong luật tố tụng hình sự Việt Nam có các biện pháp ngăn chặn: Bắt, tạm giam, tạm giữ, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm, trong đó các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm là những biện pháp ít nghiêm khắc và người bị áp dụng những biện pháp này không bị hạn chế tự do, được tại ngoại dưới sự giám sát của gia đình, cơ quan, tổ chức và bị can, bị cáo phải có mặt khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng.

Trợ giúp viên pháp lý, Luật sưcần phải lựa chọn địa điểm, thời gian gặp gỡ cho phù hợp để tiếp xúc, trao đổi ban đầu với người được trợ giúp pháp lý, tạo lòng tin của người được trợ giúp pháp lý, cần có thái độ cảm thông đúng mực, làm chỗ dựa tinh thần cho họ. Người bào chữa cần dự liệu cho người được trợ giúp pháp lý về những khả năng xảy ra trong tiến trình điều tra vụ án; cảnh báo và hướng dẫn người được trợ giúp pháp lý thực hiện các công việc cần thiết (chấp hành nghiêm lệnh triệu tập lấy lời khai của cơ quan điều tra, quyền yêu cầu khi kết thúc biên bản làm việc: đọc lại, bổ sung, thêm bớt những nội dung, ghi đúng lời khai, gạch những khoảng trống và ký tên vào các bản hỏi cung…). Đề nghị người được trợ giúp pháp lý thông báo cho người bào chữa về thời gian, địa điểm lấy lời khai khi có Giấy triệu tập lấy lời khai để được tham gia. Người bào chữa cần dự kiến những vấn đề mà Điều tra viên sẽ hỏi để bị can chuẩn bị trả lời. Trong giai đoạn này, người bào chữa cần tư vấn, giúp người được trợ giúp pháp lý hiểu về trình tự, thủ tục lấy lời khai, hỏi cung, các dấu hiệu cấu thành tội phạm đang bị cáo buộc; hướng dẫn người được trợ giúp pháp lý đưa ra chứng cứ, lý lẽ chứng minh việc không phạm tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thông qua việc thu thập, cung cấp các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, lời khai nhân chứng, diễn biến vụ án… vào thời điểm xẩy ra vụ án cho Cơ quan điều tra;

2.3.2. Gặp gỡ, tiếp xúc với bị can, bị cáo tại trại tạm giam

Để được gặp gỡ, tiếp xúc với bị can, bị cáo tại Trại tạm giam, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ có liên quan như Giấy chứng nhận người bào chữa; Thẻ Trợ giúp viên pháp lý, Thẻ Luật sư, Giấy CMTND; Quyết định cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư tham gia tố tụng của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; Giấy giới thiệu của cơ quan tiến hành tố tụng để làm thủ tục gặp bị can, bị cáo tại Trại tạm giam.

Đến Trại tạm giam, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư xuất trình các giấy tờ có liên quan cho bộ phận Hồ sơ để lấy số giam, buồng giam, khu giam bị can và nhận Phiếu xuất phạm có bút phê (sự chấp thuận) của Giám thị; Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư chuyển Phiếu xuất phạm đến bộ phận trực ban của khu giam giữ và hỏi cung; đề nghị bộ phận thường trực giải quyết thủ tục có lệnh “trích – xuất” để nhận bị can. Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư phải ký vào Sổ theo dõi của Trại để nhận bị can và đăng ký số buồng làm việc. Sau khi làm việc, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư phải ký trả bị can cho Trại tạm giam sau khi kết thúc buổi làm việc với bị can.

Tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi với bị can, bị cáo là hoạt động bắt buộc cần thiết của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư khi nhận bào chữa cho bị can, bị cáo, đặc biệt là những vụ án Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư tham gia từ giai đoạn đưa vụ án ra xét xử tại Toà án. Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, tìm hiểu diễn biến của vụ án, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư phải gặp gỡ bị can, bị cáo để làm sáng tỏ bản chất vụ án hoặc nghiên cứu hồ sơ vụ án xong đến gặp bị can, bị cáo tuỳ thuộc vào kinh nghiệm và phương pháp làm việc của người bào chữa.

Sẽ rất thuận lợi cho Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư khi đến tiếp xúc với bị can, bị cáo trong trường hợp Luật sư được chính bị can, bị cáo hoặc người thân của bị can, bị cáo mời. Ngược lại, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư sẽ khó khăn hơn trong trường hợp họ được mời theo chỉ định của Toà án hoặc người thân của họ mời mà không được sự đồng ý hay ngoài ý muốn của bị can, bị cáo. Trong mọi trường hợp, khi tiếp xúc với bị can, bị cáo lần đầu tiên, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư phải gây được thiện cảm, tạo niềm tin cho bị can, bị cáo để họ coi Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư như một chỗ dựa để cứu giúp họ, giảm bớt những cảm giác tiêu cực phát sinh khi họ phải cách ly với gia đình và xã hội .

Theo qui định hiện hành của Bộ Công an, thời gian dành cho Luật sư gặp bị can, bị cáo trong khoảng 1 giờ/một lần gặp. Vì vậy, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần chuẩn bị kế hoạch cụ thể, dự kiến trước các nội dung cần trao đổi với bị can, bị cáo. Khi gặp bị can, bị cáo để xây dựng niềm tin của bị can, bị cáo, trước tiên Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần giới thiệu về mình, giải thích về chức năng, nhiệm vụ của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư; có thể thông báo tình hình gia đình, chuyển lời nhắn của gia đình (nếu có), giải thích, hướng dẫn pháp luật (nếu bị can có thắc mắc, hỏi). Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư chuẩn bị các câu hỏi để làm rõ những hành vi mà bị can, bị cáo đã thực hiện; làm rõ những điểm có mâu thuẫn giữa lời khai của bị can, bị cáo với chứng cứ khác; xác định rõ những tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh, điều kiện phạm tội và làm rõ những yêu cầu của bị can, bị cáo với cơ quan tiến hành tố tụng. Các câu hỏi đặt ra cần ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu để bị can, bị cáo trả lời đúng trọng tâm, nên đặt câu hỏi gợi mở để bị can, bị cáo trình bầy các tình tiết diễn biến của vụ án.

Khi tiếp xúc với bị cáo, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần chú ý đến tâm trạng, diễn biến tâm lý của bị can, bị cáo. Tuỳ từng loại tội phạm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội mà bị can, bị cáo có những tâm trạng và tâm lý khác nhau, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư qua kinh nghiệm của mình có những ứng xử phù hợp. Ví dụ, bị cáo có thể nhận biết mình bị tử hình thì thường có tâm lý không muốn mời Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư để thêm tốn kém hoặc cho rằng Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư không thể chống lại được pháp đình,… Trong trường hợp như vậy, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần tế nhị với thái độ điềm tĩnh, nhân hậu, khéo léo gợi chuyện, hỏi thăm về sức khoẻ, tình trạng giam giữ, ăn ở, hoàn cảnh gia đình, sở thích cá nhân để thức tỉnh những phẩm chất tích cực của bị cáo, giảm bớt những tâm lý bi quan, chán nản của bị cáo, từ đó dẫn dắt bị cáo bộc lộ những tình tiết có liên quan đến vụ án.

Khi được bị can, bị cáo chấp nhận, bước đầu đặt niềm tin vào Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư, muốn trao đổi, bày tỏ với Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư thì tranh thủ cơ hội này, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư giới thiệu cho bị cáo biết về những quyền tố tụng, những khả năng, biện pháp mà họ được sử dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trên cơ sở đó, gây dựng niềm tin cho bị cáo để họ tích cực tham gia cùng với Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư xem xét, nghiên cứu hồ sơ, thu thập tài liệu, chứng cứ, lập luận cứ bác bỏ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ hình phạt.

Về nguyên tắc, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư hành động cùng với bị cáo, bảo vệ quyền lợi ích của họ, không được hành động có hại cho bị cáo. Tuy nhiên, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cũng không thể thay thế bị cáo, mà Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư tham gia tố tụng độc lập, có quyền và nghĩa vụ riêng, không phụ thuộc hoàn toàn vào quan điểm và ý chí của bị cáo mà cần độc lập xác định cho mình phương hướng, chiến thuật bào chữa và tranh luận tại Toà án nhân danh mình vì quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

Trong quá trình tiếp xúc với bị can, bị cáo có thể phát sinh quan hệ đồng thuận hoặc bất đồng giữa Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư và bị can, bị cáo. Trong nhiều trường hợp, thông thường Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư và bị cáo có đồng quan điểm, thoả thuận với nhau về quan điểm và đánh giá chứng cứ, tin tưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, cũng có trường hợp Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư và bị cáo bất đồng quan điểm trong việc đánh giá một số sự kiện hoặc một số chứng cứ riêng biệt. Ví dụ: có trường hợp bị cáo không phạm tội, nhưng nhận tội vì lý do nào đó (nhận tội thay cho người thân, bị bức cung hay do một áp lực nào đó mà họ không thể vượt qua), bị cáo không nói sự thật cho Luật sư biết và không hiểu hậu quả của việc nhận tội đó; còn Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, tìm hiểu vụ việc, tiếp xúc với bị cáo và tranh luận tại phiên toà thấy rằng bị cáo không phạm tội. Trong trường hợp này, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư phải sử dụng mọi quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định để chứng minh bị cáo vô tội. Hoặc bị cáo phạm tội nhưng không thừa nhận mình có tội và yêu cầu Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư bác bỏ lời buộc tội của Viện kiểm sát, trong khi đó, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư qua quá trình xem xét hồ sơ thấy rằng bị cáo có phạm tội. Trong trường hợp này Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần giải thích, thuyết phục, hướng dẫn bị cáo cách xử sự có lợi nhất cho bị cáo như biết tội, thành khẩn nhận tội và khai báo các hành vi phạm pháp để hưởng khoan hồng,…Trên cơ sở đó, Trợ giúp viên pháp lý , Luật sư trình bày những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Điều cần lưu ý, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư không nên đưa ra bất cứ một cử chỉ hoặc lời nói nào thể hiện việc thừa nhận tính phạm tội của bị cáo trái với sự phủ nhận của họ, bởi như vậy sẽ khẳng định thêm lời buộc tội đối với bị cáo, đồng thời trái với mục đích bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư và đó là sai lầm nghề nghiệp của người bào chữa.

Tóm lại, trong bất cứ hoàn cảnh nào, bằng lương tâm, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư phải sử dụng đầy đủ các quyền năng mà pháp luật cho phép để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của mình và không được hành động có hại cho thân chủ. Trong quá trình tham gia tố tụng cần phải có quan điểm, chính kiến riêng có lợi cho thân chủ, không phụ họa lời buộc tội và cũng không nghe theo bị cáo một cách mù quáng trong trường hợp bị cáo phủ nhận tội lỗi của mình mà không có cơ sở pháp lý xác thực.

Trong quá trình trao đổi với bị can, bị cáo Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cần tập trung làm rõ những những tình tiết mang tính bản chất để làm rõ sự thật khách quan của vụ án; làm rõ các vấn đề còn mâu thuẫn giữa lời khai và chứng cứ, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, động cơ, mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Trong quá trình làm việc với bị can, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư phải chú ý lắng nghe, ghi chép, đặt câu hỏi bổ sung để