Theo quy định tại Bộ luật Dân sự, thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là di sản.
Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản thừa kế là việc lấy tài sản của người chết để lại và chuyển giao quyền sử hữu, định đoạt cho những người còn sống.
Theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành thì thừa kế được chia làm hai loại: thừa thế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
Nói một cách đơn giản thì thừa kế theo di chúc là việc thực hiện trong trường hợp người chết để lại di chúc, nội dung di chúc không trái quy định pháp luật, di chúc không bị vô hiệu. Còn thừa kế theo pháp luật là việc người chết không để lại di chúc, di chúc vô hiệu hoặc trái quy định của pháp luật.
Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong phần tài sản chung với người khác.
Về thời hiệu thừa kế, theo quy định tại Điều 623 của Bộ luật dân sự năm 2015
Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu;
Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Hàng thừa kế được xác định khi việc thừa kế được tiến hành theo pháp luật mà không thông qua hoặc không có di chúc do người chết để lại.
Các hàng thừa kế bao gồm:
Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻn con nuôi của người chết;
Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắc ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Tham gia tố tụng với tư cách là đại diện ủy quyền- nhân danh khách hàng thực hiện tất cả các phương án và cách thức theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tốt nhất tại các cấp tòa xét xử.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------------------
Tôi là (ghi rõ họ và tên): ……………………………………..
Sinh ngày: …. / .… / ……….
CCCD số: ………………… Cấp ngày: …. / .… / ………. Nơi cấp: …………………………….
Hộ khẩu thường trú (Trường hợp không có hộ khẩu thường trú, thì ghi đăng ký tạm trú):
…………………………………………………………………………………………………………
Tôi là người thừa kế duy nhất theo pháp luật của ông/bà ……………………………………..
đã qua đời ngày …. / .… / ………. theo Giấy chứng tử ………………………………………. do Uỷ ban nhân dân …………………………… cấp ngày …. / .… / ……….
Tôi xin nhận tài sản thừa kế của ông/bà …………………………………….. để lại như sau:
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
Tôi xin cam đoan:
– Những thông tin đã ghi trong Văn bản nhận tài sản thừa kế này là đúng sự thật;
– Ngoài tôi ra, ông/bà …………………………… không còn người thừa kế nào khác.
Người nhận tài sản thừa kế
(Ký và ghi rõ họ tên)
LS TRẦN MINH HÙNG