Theo thông tin anh (chị) cung cấp, chúng tôi được biết như sau:
Gia đình anh (chị) có xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích là 92.0m2 tài sản trên do bố mẹ anh (chị) để lại ngày 10 tháng 11 năm 2017 phòng tài nguyên và môi trường thành phố Sầm Sơn có trả lời việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất do nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ bố mẹ là Nguyễn Văn Thành, bà Văn Thị Láu địa chỉ khi đất phố Sơn Hải, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn trả kết quả vì hồ sơ chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở với lý do:
Và theo hồ sơ cung cấp thì ông không hề biết về việc có văn bản về văn bản phân chia tài sản thừa kế.
Yêu cầu tư vấn của anh (chị) là:
Tư vấn luật đất đai và giải quyết vấn đề trên giúp gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc gia đình bà Lương Văn Sen và Nguyễn Thị Thùy Dung được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi trong biên bản họp gia đình không có mặt của anh (chị).
Văn phòng luật sư dùng các văn bản pháp luật áp dụng:
– Luật đất đai năm 2013;
– Nghị định 43/2014/NĐ-CP;
– Luật dân sự năm 2015;
– Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT.
– Các văn bản khác hướng dẫn thi hành…..
2, Ý kiến tư vấn:
Về văn bản phân chia tài sản thừa kế.
Theo quy định quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 656 Bộ luật dân sự 2015.
“Điều 656. Họp mặt những người thừa kế
Tuy nhiên trong văn bản thỏa thuận việc phân chia tài sản thừa kế ngày 12 tháng 11 năm 2007 về việc chia thừa kế thì hai bản thỏa thuận phân chia thừa kế của ông Quang và phần chia tài sản của bà Nguyễn Thùy Dung khác nhau về chữ ký của ông Quang hai nét chữ có phần khác nhau, và thông tin về các phần được chia về các suất thừa kế là khác nhau à Cần làm rõ vấn đề trên.
Theo như thông tin anh (chị) đưa ra trong đơn kiến nghị thì anh chị không hề biết có văn bản phân chia đất lại có ở trên phường và hôm lập văn bản thừa kế không có mặt gia đình ông. Vì thế gia đình cần đi giám định lại chữ ký. Nếu trường hợp gia đình anh (chị) không ký vào biên bản thỏa thuận việc chia thừa kế thì theo quy định Khoản 4 Điều 4 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT
“4. Trường hợp nhiều người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà những người được hưởng thừa kế có văn bản thỏa thuận chưa phân chia thừa kế và đề nghị cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện đối với toàn bộ diện tích đất, tài sản gắn liền với đất để thừa kế thì cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện đó. Văn bản thỏa thuận phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Trên Giấy chứng nhận ghi thông tin của người đại diện theo quy định tại Khoản 1 Điều này, dòng tiếp theo ghi “Là người đại diện của những người được thừa kế gồm:… (ghi lần lượt tên của những người được thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất)”. Sổ đỏ cấp cho hai hộ gia đình bà Sen và bà Dung bị hủy do vi phạm quy định.
Khuyến nghị:Cần làm rõ quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ hộ là Lương Văn Sen và Nguyễn Thị Thùy Dungtại cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Nếu quá trình cấp đất sai trình tự thủ tục thì Gia đình có thể gửi đơn tới Tòa án nhân dân tỉnh Thanh hóa để yêu cầu tuyên hủy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho chủ hộ là Lương Văn Sen và Nguyễn Thị Thùy Dung.
Về việc từ chối việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Áp dụng quy định tại Điều 20 Nghị định 43/2014/ NĐ-CP:
“Điều 20. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:
Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó; b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài; c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được công nhận theo quy định tại Điểm b Khoản này; d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.
Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;
b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này; c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này; d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.
Trường hợp thửa đất có nhiều hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng chung thì hạn mức đất ở quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này được tính bằng tổng hạn mức đất ở của các hộ gia đình, cá nhân đó.
Trường hợp một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở có nguồn gốc của ông cha để lại hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông cha để lại, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không vi phạm pháp luật đất đai thì hạn mức đất ở được xác định theo quy định đối với từng thửa đất đó.
Ở đây trường hợp gia đình anh (chị) đã có xác nhận của UBND về việc đất có nhà ở từ trước ngày 15/10/1993 do ông bà để lại đó là phần tài sản được hưởng thừa kế thì trường hợp này có cơ sở được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
4. Phí và thù lao luật sư
Phí và thù lao luật sư trong vụ việc đề nghị anh chị đến trực tiếp văn phòng luật sư Gia Đình để được tham vấn trực tiếp, sau khi ký kết hợp đồng, Luật sư = sẽ:
Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.
Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như: Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, các vụi Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái.… và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.
Trân trọng cảm ơn.