Luật sư bào chữa hình sự là những chuyên gia tư vấn pháp lý chịu trách nghiệm bào chữa và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bên liên quan trong vụ án. Thông qua việc trực tiếp tham gia vào mọi giai đoạn từ điều tra, truy tố đến xét xử.
Từ đó, Luật sư hình sự thu thập chứng cứ và tham gia tranh tụng tại tòa. Họ giúp xác định các căn cứ gỡ tội hoặc giảm án cho bị cáo, đồng thời bảo đảm vụ án được giải quyết đúng người, đúng tội theo quy định hiện hành.
Trong bối cảnh xã hội ngày càng biến động, các vụ việc hình sự thường có tình tiết cực kỳ phức tạp. Thực tế cho thấy, bất kỳ sơ suất nào trong quá trình cung cấp lời khai hay những sai lệch về trình tự tố tụng đều có thể dẫn đến những hệ lụy khôn lường đối với quyền tự do, uy tín và tương lai của cá nhân.
Việc có sự đồng hành của luật sư ngay từ đầu là lá chắn cần thiết để bảo vệ danh dự của bạn. Khách hàng sẽ tìm đến sự hỗ trợ luật sư tư vấn hình sự khi gặp các vấn đề sau:
Trong xuyên suốt quá trình diễn ra vụ việc, vai trò của luật sư bào chữa hình sự là vô cùng quan trọng :
Luật sư bào chữa hình sự của luật sư Gia Đình sẽ tư vấn cho bạn các vấn đề sau:
Luật sư bào chữa hình sự của chúng tôi sẽ hỗ trợ bạn soạn thảo các văn bản như:
Chi phí thuê luật sư vụ án hình sự phụ thuộc vào mức độ phức tạp của vụ việc, kinh nghiệm và uy tín của luật sư và thời gian giải quyết vụ việc. Chúng tôi cam kết luôn đặt quyền lợi khách hàng trên hết, mang đến cho khách hàng sự trải nghiệm dịch vụ tốt nhất.
Tại chúng tôi cam kết:
NẾU BỊ CÔNG AN TRIỆU TẬP LÀM VIỆC BẠN NÊN IM LẶNGVÀ THUÊ LUẬT SƯ.
1. THỰC HIỆN QUYỀN IM LẶNG:
* Quy định về quyền IM LẶNG trên thế giới:
"Quyền IM LẶNG" (hay gọi là quyền Miranda) bắt nguồn từ một án lệ ở Mỹ.
Quyền này được giải thích là: “Anh có quyền giữ IM LẶNG và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa”.
Nguyên tắc “quyền Miranda” được pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới ghi nhận. Hiến pháp Nhật Bản quy định “không ai bị giam giữ nếu không được thông báo tội trạng và không có luật sư bênh vực”; quyền IM LẶNG ở Đức được đảm bảo rất rộng: Bị cáo có quyền không khai báo, không nhận tội từ khi bị tình nghi đến khi bị xét xử.
* Quy định về Quyền IM LẶNG tại Việt Nam:
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không trực tiếp ghi nhận thuật ngữ về quyền IM LẶNG nhưng gián tiếp qua một số điều luật để ngầm hiểu đó là quyền IM LẶNG dành cho bị can, bị cáo khi bị điều tra hình sự.
Quyền im lặng hiện nay quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự: Điều 13, 15, Điều 58,59,60,61, Điều 87, Điều 309.
Có thể thấy, bị can, bị cáo có quyền tự chủ trong việc khai báo; “trình bày lời khai” là quyền của bị can, bị cáo mà không phải là nghĩa vụ bắt buộc.
Theo đó, bị can, bị cáo có thể trình bày lời khai hoặc không. Việc không trình bày lời khai thể hiện ở việc bị can, bị cáo IM LẶNG trước cơ quan tiến hành tố tụng. Khi bị can, bị cáo IM LẶNG, cơ quan tiến hành tố tụng không có quyền ép buộc họ phải khai báo bằng các biện pháp không hợp pháp.
Như vậy, như phân tích, dẫn dắt quy định ở trên thì mọi người khi bị bắt, bị tạm giữ thì nếu cho rằng mình còn thiếu hiểu biết, lời khai có thể gây bất lợi, thì nên IM LẶNG và yêu cầu được thuê luật sư.
2. THỰC HIỆN QUYỀN THUÊ LUẬT SƯ:
* Bộ luật tố tụng hình sự tại các Điều 16, 60, 61 đều quy định về quyền của bị can, bị cáo được thuê luật sư để bào chữa cho mình. Do đó trong mọi trường hợp kể từ khi bị bắt, bị tạm giữ hoặc thậm chí một hình thức khác như bị mời làm việc cũng có thể tiến hành yêu cầu luật sư có mặt để tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình.
* Thông tư số 46/2019/TT-BCA quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền khi tiếp nhận việc bắt, giữ phải giải thích quyền, nghĩa vụ cho người bị bắt giữ trong đó có quyền được nhờ luật sư bào chữa. Cụ thể:
+ Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam có đơn yêu cầu người bào chữa thì Cơ quan điều tra, cơ sở giam giữ đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết.
Việc chuyển đơn yêu cầu người bào chữa của cơ quan đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam được gửi trực tiếp tại trụ sở cơ quan này hoặc gửi qua đường bưu chính. Nếu gửi trực tiếp tại trụ sở cơ quan đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thì phải có ký nhận tại Sổ giao nhận công văn, tài liệu.
+ Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam chưa yêu cầu nhờ người bào chữa thì trong lần đầu tiên lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, lần đầu tiên hỏi cung bị can, Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải hỏi rõ người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can có nhờ người bào chữa hay không và phải ghi ý kiến của họ vào biên bản. Nếu họ có yêu cầu nhờ người bào chữa thì Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra hướng dẫn họ viết đơn nhờ người bào chữa và thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Trường hợp họ không nhờ người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ sau khi lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, 24 giờ kể từ khi hỏi cung bị can lần đầu, Điều tra viên, Cán bộ điều tra đã lấy lời khai, hỏi cung có trách nhiệm thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam.
+ Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có đơn yêu cầu người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa, cơ quan nhận đơn của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan nhận đơn phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. Việc chuyển đơn được thực hiện qua đường bưu chính hoặc trực tiếp tại trụ sở cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nếu người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích có nhu cầu nhận trực tiếp tại trụ sở cơ quan này và có ký nhận tại Sổ giao nhận công văn, tài liệu.
Việc chuyển đơn có thể được thực hiện cùng với việc thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trong quá trình thực hiện việc chuyển đơn, nếu người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp bị áp dụng biện pháp tạm giữ thì việc tiến hành các thủ tục đăng ký bào chữa tiếp tục được thực hiện, không phải làm các thủ tục đăng ký đối với người bị tạm giữ.
+ Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không yêu cầu người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi lập xong biên bản giao nhận Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp bị tạm giữ thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 46/2019/TT-BCA.
* Lưu ý rằng:
* Quan trọng nhất:
1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
a) Phạm tội có tổ chức;
b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;d) Phạm tội có tính chất côn đồ;đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;g) Phạm tội 02 lần trở lên;h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội;n) Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm....LS TRẦN MINH HÙNG