Bộ luật dân sự năm 2015
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
Luật Thương mại 2005 số 36/2005/QH11
Luật Doanh nghiệp năm 2020 số 59/2020/QH14
Căn cứ Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, quy định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng:
“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.
Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng là 02 (hai) năm và thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày bên khởi kiện biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
*Lưu ý: Các tài liệu, chứng cứ nêu trên nếu là văn bản, tài liệu, chứng cứ bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch sang tiếng Việt Nam hoặc được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi chuẩn bị xong hồ sơ khởi kiện thì bên khởi kiện sẽ gửi đơn khởi kiện kèm theo các tài liệu, chứng cứ đã chuẩn bị đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:
Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 và Khoản 4 Điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 , quy định thủ tục xử lý đơn của tòa án, như sau:
“Điều 191. Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.”
Theo quy định trên thì trong thời hạn 08 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý, Tòa án phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau:
a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Như vậy, trong trường hợp tòa án chấp nhận giải quyết đơn khởi kiện thì sẽ cho người khởi thực hiện đóng tiền tạm ứng án phí (nếu có), sau đó tòa án sẽ ra thông báo thụ lý vụ án và tiến hành các bước giải quyết tiếp theo quy định.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, như sau:
“Điều 203. Thời hạn chuẩn bị xét xử
1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:
a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;
b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.
Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.”
Theo quy định trên, thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử của tòa án thông thường sẽ là từ 04 – 06 tháng.
Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa.
Trường hợp Tòa án xét thấy có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
Căn cứ Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quy định người có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, như sau:
“Điều 271. Người có quyền kháng cáo
Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.”
Căn cứ Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quy định thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm, như sau:
“Điều 273. Thời hạn kháng cáo