Notice: fwrite(): write of 182 bytes failed with errno=122 Disk quota exceeded in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 53Warning: fread(): Length parameter must be greater than 0 in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 32Notice: fwrite(): write of 197 bytes failed with errno=122 Disk quota exceeded in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 53 Luật sư tư vấn kiện đòi nhà đất tại tphcm - Luật sư chuyên tư vấn kiện đòi đất

Luật sư tư vấn kiện đòi nhà đất tại tphcm

0đ
Mã Tư Vấn Pháp Luật:
Tình trạng:
Còn hàng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 45/2017/DS-PT NGÀY 05/07/2017 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN LÀ NHÀ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ HỦY QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI CỦA CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN T

Ngày 05 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2017/TLPT-DS ngày 20 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp “Đòi lại tài sản là nhà và quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/DS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 287/2017/QĐ-PT ngày 09 tháng 06 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 303/2017/QĐ-PT ngày 23 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị Q, sinh năm 1932.

Địa chỉ cư trú: Khu dân cư 18, tổ dân phố 6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Bùi Thị Cẩm V, sinh năm 1958. Là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 11 tháng 4 năm 201).

Địa chỉ cư trú: Khu dân cư 18, tổ dân phố 6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Thiều Quang V - Văn phòng luật sư QV, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Ngọc C, sinh năm 1958.

Địa chỉ cư trú: Khu dân cư 18, tổ dân phố 6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trương Quang T - Văn phòng luật sư QT, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Ngãi.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

NLQ1: Bà Bùi Thị Cẩm V, sinh năm 1958.

Địa chỉ cư trú: Khu dân cư 18, tổ dân phố 6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi

NLQ2: Bà Bùi Thị Thúy N, sinh năm 1962.

Địa chỉ cư trú: Khu dân cư 1, tổ dân phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

NLQ3: Ông Bùi Tấn D, sinh năm 1969.

Địa chỉ cư trú: Khu dân cư 16, tổ dân phố 6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

NLQ4: Bà Bùi Thị Mỹ L, sinh năm 1975.

Địa chỉ cư trú: Khu dân cư 18, tổ dân phố 6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

NLQ5: Bà Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1977.

Địa chỉ cư trú: Số nhà A, đường M, phường S, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. (Bà Bùi Thị Thanh T ủy quyền cho bà Bùi Thị Cẩm V theo văn bản ủy quyền ngày 27/4/2016)

NLQ6: Bà Bùi Thị Lệ C, sinh năm 1972.

Địa chỉ cư trú: Số B, phường H, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. (Bà Bùi Thị Lệ C ủy quyền cho bà Bùi Thị Cẩm V theo văn bản ủy quyền ngày 27/4/2016)

NLQ7: Chị Bùi Thị Linh P, sinh năm 1981. NLQ8: Anh Bùi Tấn Thiên D, sinh năm 1984. NLQ9: Chị Bùi Thị Thanh K, sinh năm 1985. NLQ10: Anh Bùi Tấn K, sinh năm 1989. NLQ11: Chị Trần Thị T, sinh năm 1985. NLQ12: Anh Nguyễn Duy D sinh năm 1980.

Đều có địa chỉ cư trú: Khu dân cư 18, tổ dân phố 6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

NLQ13: Chị Bùi Thị Phương L, sinh năm 1980.

Địa chỉ cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. (Chị Bùi Thị Phương L ủy quyền cho chị Bùi Thị Linh P theo văn bản ủy quyền ngày 22/02/2017).

Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân B, chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Địa chỉ: Khu dân cư 08, tổ dân phố 4, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn cụ Nguyễn Thị Q và bị đơn bà Đỗ Thị Ngọc C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 12 năm 2015, ngày 16 tháng 11 năm 2015, các biên bản lấy lời khai ngày 25 tháng 3 năm 2016, ngày 28 tháng 3 năm 2016, các biên bản hòa giải ngày 12 tháng 8 năm 2016, ngày 14 tháng 12 năm 2016 và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn cụ Nguyễn Thị Q trình bày:

Cụ Nguyễn Thị Q có chồng là cụ Bùi Tấn C (chết năm 1991), cụ và cụ C có tất cả 08 người con, 01 người đã chết lúc 04 tuổi, ông Bùi Tấn N (chết năm 2008); Bà Bùi Thị Cẩm V; Bà Bùi Thị Thúy N; Ông Bùi Tấn D; Bà Bùi Thị Mỹ L; Bà Bùi Thị Thanh T; Bà Bùi Thị Lệ C.

Thửa đất 628, tờ bản đồ số 6, thị trấn T, huyện T có nguồn gốc, năm 1968 anh ruột cụ là Nguyễn Văn T (đã chết) có cho cụ 488m2đất và vợ chồng cụ có xây dựng một ngôi nhà tranh, vách đất để ở. Năm 1986, anh ruột của cụ là Nguyễn Văn T có bán cho vợ chồng cụ vườn cây ăn quả có diện tích 1000m2, có giấy bán vườn cây ăn quả được Uỷ ban nhân dân xã T chứng thực ngày 28-01-1986. Sau đó, vợ chồng cụ đã sáp nhập vào vườn nhà cũ. Năm 1980, ông Bùi Tấn N kết hôn với bà Đỗ Thị Ngọc C và ở với cụ một thời gian rồi vợ chồng cụ có mua một ngôi nhà tại đội Phi nông nghiệp, thôn T, xã T để cho vợ chồng ông Bùi Tấn N bà Đỗ Thị Ngọc C ra ở riêng. Năm 1985, nhà nước giải tỏa khu vực này và cấp cho vợ chồng ông Bùi Tấn N, bà Đỗ Thị Ngọc C một diện tích đất mới. Năm 1989 vợ chồng ông Bùi Tấn N, bà Đỗ Thị Ngọc C bán đất và chuyển cả nhà lên xã T (nay thuộc huyện TTr) để sinh sống. Năm 1991, chồng cụ là cụ Bùi Tấn C chết, cùng năm 1991 cụ tháo dỡ nhà tranh, vách đất xây dựng một nhà chính lợp ngói và một nhà bếp. Năm 1999, Nhà nước thông báo đi kê khai, đăng kí để cấp đất và cụ là người trực tiếp đi kê khai, đăng kí thửa đất 628, tờ bản đồ số 6, tại thị trấn T, huyện T, nhưng sau đó cụ bị tai biến nặng nên không đi làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được. Đến năm 2000, vợ chồng ông Bùi Tấn N, bà Đỗ Thị Ngọc C cùng các con từ huyệnTTr về huyện T ở và có đến xin cụ cho ở nhờ và cụ đồng ý. Từ năm 2000 trở về trước cụ là người nộp thuế cho nhà nước. Năm 2001, cụ bị vợ chồng ông Đỗ Tấn N, bà Đỗ Thị Ngọc C đuổi ra khỏi nhà, sau đó ông Bùi Tấn N tự ý đi làm thủ tục và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến khi ông Bùi Tấn N và ông Lê Trung Đ có tranh chấp lối đi thì cụ mới phát hiện hộ ông Bùi Tấn N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2008, ông Bùi Tấn N chết bà Đỗ Thị Ngọc C muốn sang tên giấy tờ qua tên bà để bán đất, nhà về quê ở xã Tịnh P, huyện S. Vì vậy, cụ đã khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện T nhưng Chủ tịch UBND huyện T đã bác đơn khiếu nại của cụ. Trong quá trình bà Đỗ Thị Ngọc C và các con sử dụng đất đã tự ý xây dựng các nhà tạm để kinh doanh làm quán cà phê, trồng một số cây cối… Nay, cụ yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T buộc bà Đỗ Thị Ngọc C và các con giao trả lại toàn bộ đất và ngôi nhà chính cụ đã làm; riêng ngôi nhà bếp cụ đã xây dựng có diện tích 60m2hiện nay bà Đỗ Thị Ngọc C đã tháo dỡ xây dựng lại nên cụ rút yêu cầu đối với ngôi nhà bếp. Theo Trung tâm trắc địa và quan trắc môi trường đo đạc lại ngày 06-7- 2016 thì diện tích thửa đất tăng lên từ 1.488m2lên 2.878,8m2, ngôi nhà chính có diện tích 83,8m2, nên cụ yêu cầu bà Đỗ Thị Ngọc C trả lại toàn bộ diện tích đất 2.878,8m2và ngôi nhà chính có diện tích 83,8m2. Cụ đồng ý giao cho bà Đỗ Thị Ngọc C và các con bà Đỗ Thị Ngọc C tiếp tục quản lý, sở hữu ngôi nhà dưới có diện tích 51,9m2mà bà Đỗ Thị Ngọc C và các con bà Đỗ Thị Ngọc C đã xây dựng. Ngoài ra, cụ yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02387/QSDĐ số 39/QĐ-UB ngày 21-01-2002 của UBND huyện T đã cấp cho hộ ông Bùi Tấn N và hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 114/QĐ-UBND ngày 23-02-2012 của Chủ tịch UBND huyện T.

Theo bản tự khai ngày 23/3/2016, các biên bản lấy lời khai ngày 24 tháng 3 năm 2016, ngày 07 tháng 6 năm 2016, các biên bản hòa giải ngày 12 tháng 8 năm 2016, ngày 14 tháng 12 năm 2016 và tại phiên tòa bị đơn bà Đỗ Thị Ngọc C trình bày: Bà có chồng là ông Bùi Tấn N (chết năm 2008) là con trai cụ Nguyễn Thị Q và cụ Bùi Tấn C (chết năm 1991); bà và ông N có với nhau 05 người con: Bùi Thị Phương L, Bùi Thị Linh P, Bùi Tấn Thiên D, Bùi Thị Thanh K và Bùi Tấn K. Riêng con gái Bùi Thị Phương L, sinh năm 1980 hiện nay đang ở thôn T, xã Tịnh P, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Nguyên nguồn gốc thửa đất 628, tờ bản đồ số 6 mà gia đình bà đang sinh sống là của cha mẹ chồng bà. Năm 1980 bà kết hôn với ông Bùi Tấn N và về ở chung cùng cụ Q, cụ C trong ngôi nhà tranh, vách đất. Cùng năm 1980 bà và ông N ra ở riêng tại đội 2, phi Nông nghiệp (nay là Khu dân cư 4, tổ dân phố 1, thị trấn T) đất này do cha chồng bà hỏi mua và vợ chồng bà trả tiền. Trong khoảng thời gian từ năm 1987 đến năm 1988 gia đình bà lên xã T (nay thuộc huyện TTr, tỉnh Quảng Ngãi) để buôn bán. Khoảng năm 1995 vợ chồng bà quay về và ở tại nhà thờ Công giáo. Năm 1999 mẹ chồng bà gọi vợ chồng bà về ở cùng, lúc này cha chồng bà đã chết. Ngôi nhà tranh, vách đất được mẹ chồng bà xây dựng lại là ngôi nhà cấp 4 như hiện nay vào năm 1991, khi xây dựng vợ chồng bà cũng có đóng góp tiền. Năm 2001, mẹ chồng bà không ở với vợ chồng bà nữa mà về ở với con gái Bùi Thị Cẩm V. Ngày 18-5-2000, chồng bà là Bùi Tấn N có làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02387/QSDĐ số 39/QĐ-UB ngày 21-01- 2002. Khi đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ khẩu của gia đình bà độc lập, cụ Q có hộ khẩu riêng. Năm 2005, vợ chồng bà dỡ dọn nhà bếp của cụ Q để xây dựng một nhà dưới. Năm 2011 cụ Q làm đơn khiếu nại, nhưng UBND huyện T không cho các bên đối thoại mà chỉ đến khu dân cư để công bố quyết định giải quyết khiếu nại. Hiện nay, trên đất bà và các con có làm các công trình phụ để kinh doanh quán cà phê. Nay, cụ Q yêu cầu bà trả lại toàn bộ diện tích 2.878,8m2 và ngôi nhà chính có diện tích 83,8m2và yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02387/QSDĐ số 39/QĐ-UB ngày 21-01-2002 của UBND huyện T đã cấp cho hộ ông Bùi Tấn N và hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 114/QĐ-UBND ngày 23-02-2012 của Chủ tịch UBND huyện T bà không đồng ý.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị Cẩm V, bà Bùi Thị Thúy N,bà Bùi Thị Mỹ L, bà Bùi Thị Thanh T, bà Bùi Thị Lệ C, ông Bùi Tấn D trình bày: Thống nhất với lời trình bày của mẹ các ông, bà là cụ Nguyễn Thị Q. Đồng thời, nguồn gốc đất này có phần di sản của cha các ông, bà để lại (cụ Bùi Tấn C) mà ông Bùi Tấn N tự ý đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không được sự đồng ý của các anh, em nên các ông, bà thống nhất như yêu cầu của mẹ các ông, bà : Buộc bà Đỗ Thị Ngọc C trả lại toàn bộ diện tích 2.878,8m2, ngôi nhà chính có diện tích 83,8m2 cho mẹ các ông, bà và yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02387/QSDĐ số 39/QĐ-UB ngày 21-01-2002 của UBND huyện T đã cấp cho hộ ông Bùi Tấn N và hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 114/QĐ-UBND ngày 23-02-2012 của Chủ tịch UBND huyện T. Đối với phần di sản của cha các ông, bà để lại các ông, bà không yêu cầu Tòa án chia để bà Đỗ Thị Ngọc C trả lại cho mẹ các ông, bà sau đó sẽ yêu cầu sau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị Linh P, anh Bùi Tấn Thiên D, chị Bùi Thị Thanh K, anh Bùi Tấn K, chị Trần Thị T, anh Nguyễn Duy D trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà Đỗ Thị Ngọc C. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND huyện T và Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Quảng Ngãi do ông Nguyễn Xuân B là người đại diện theo pháp luật, Nguyễn Xuân B ủy quyền cho ông Phan Minh H trình bày: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02387 ngày 21-01-2002 của UBND huyện T cho hộ ông Bùi Tấn N tại thửa đất số 628, tờ bản đồ số 6 tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi là đảm bảo quy trình, quy định của Nhà nước vì: Đã được Hội đồng xét cấp đất của xã xét cấp đất cho những hộ dân có đủ điều kiện cấp đất theo qui định tại Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16-3-1998 của Tổng cục địa chính; Tất cả hồ sơ trong việc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện, có hồ sơ ông Bùi Tấn N đã được Đoàn kiểm tra, phúc tra của Sở địa chính tỉnh Quảng Ngãi, Phòng địa chính huyện T, UBND xã T xem xét, các hộ được UBND huyện cấp đất theo Quyết định 39/2002/QĐ-UB ngày 17-01-2002 là đủ điều kiện; Đến năm 2009 sau khi ông Bùi Tấn N chết cụ Q mới phát sinh đơn khiếu nại nhưng cụ Q không cung cấp cho UBND huyện T những tài liệu, chứng cứ về nguồn gốc đất, nhà ở. Việc ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 114/QĐ-UBND ngày 23-02-2012 là đúng vì tại thời điểm năm 1999 cụ Q có đi kê khai theo Nghị định 64 diện tích đất ruộng nhưng cụ Q không thực hiện kê khai thửa đất 628, tờ bản đồ số 6, tại thị trấn T, huyện T nên Chủ tịch UBND huyện T ban hành quyết định giải quyết khiếu nại là hoàn toàn đúng pháp luật. Nay, cụ Q yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02387/QSDĐ số 39/QĐ-UB ngày 21-01-2002 của UBND huyện T đã cấp cho hộ ông Bùi Tấn N và hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 114/QĐ-UBND ngày 23-02-2012 của Chủ tịch UBND huyện T, ông đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND huyện T không đồng ý.

Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/DS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện T tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đòi lại nhà bếp có diện tích 60m2, tại thửa đất 628, tờ bản đồ số 6 (nay là thửa đất 425, tờ bản đồ số 18) thị trấn Trà Xuân, huyện Trà Bồng mà cụ Nguyễn Thị Q đã rút.

2. Trích 45,9 m2 thuộc thửa đất số 628, tờ bản đồ số 6 thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi nằm trong phần đất của cụ Nguyễn Thị Q làm lối đi chung

3. Buộc Bà Đỗ Thị Ngọc C và các con Bùi Thị Phương L, Bùi Thị Linh P, Bùi Tấn Thiên D, Bùi Thị Thanh K, anh Bùi Tấn K, chị Trần Thị T, anh Nguyễn Duy D phải giao trả 1.273,5m2(trong đó có 150m2đất thổ cư và 1.123,5m2đất vườn) tại thửa đất 628, tờ bản đồ số 6, thị trấn T, huyện T cho cụ Nguyễn Thị Q.

4. Buộc bà Đỗ Thị Ngọc C và các con Bùi Thị Phương L, Bùi Thị Linh P, Bùi Tấn Thiên D, Bùi Thị Thanh K, anh Bùi Tấn K, chị Trần Thị T, anh Nguyễn Duy D trả lại 01 ngôi nhà cấp 4 do cụ Nguyễn Thị Q xây dựng có diện tích 83,8m2, nằm trên phần đất được giao cho cụ Q tại thửa đất 628, tờ bản đồ số 6 cho cụ Nguyễn Thị Q.

5. Giao cho cụ Nguyễn Thị Q sở hữu 01 giếng nước do cụ Q xây dựng, phòng ở được chái từ nhà chính có diện tích 28,5m2; một mái hiên phía Tây ngôi nhà chính có diện tích 40,2m2; một ao cá có diện tích 30,7m2; một nhà chòi cà phê lục giác có diện tích 10,7m2; Phần trụ cổng phía Tây thửa đất, phần sân xi măng có diện tích 99,45m2 và Buộc cụ Q phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Đỗ Thị Ngọc C và các con Bùi Thị Phương L, Bùi Thị Linh P, Bùi Tấn Thiên D, Bùi Thị Thanh K, anh Bùi Tấn K, chị Trần Thị T, anh Nguyễn Duy D 118.672.500 đồng.

6. Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Nguyễn Thị Q giao cho bà Đỗ Thị Ngọc C và các con Bùi Thị Phương L, Bùi Thị Linh P, Bùi Tấn Thiên D, Bùi Thị Thanh K, anh Bùi Tấn K, chị Trần Thị T, anh Nguyễn Duy D một diện tích đất vườn 51,9m2mà bà C và các con đã xây dựng nhà dưới có diện tích 51.9m2.

Giao cho bà Đỗ Thị Ngọc C và các con Bùi Thị Phương L, Bùi Thị Linh P, Bùi Tấn Thiên D, Bùi Thị Thanh K, anh Bùi Tấn K, chị Trần Thị T, anh Nguyễn Duy D một diện tích đất vườn 68.1m2 phần công sức đóng góp, tu bổ, giữ gìn (nằm liền kề với nhà dưới có diện tích 51,9m2).

7. Buộc bà Đỗ Thị Ngọc C và các con Bùi Thị Phương L, Bùi Thị Linh P, Bùi Tấn Thiên D, Bùi Thị Thanh K, anh Bùi Tấn K, chị Trần Thị T, anh Nguyễn Duy D phải tháo dỡ phần nhà cột có diện tích 79,45m2, và tháo dỡ trại để xe có diện tích 10m2; tháo dỡ tường rào, lưới B40, trụ bê tông; nằm trên phần đất của cụ Q để giao trả đất lại cho cụ Q.

Đối với các cây trồng trên đất các bên đã thỏa thuận nằm trên phần đất của ai người đó được hưởng.

8. Tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02387/QSDĐ số 39/QĐ-UB ngày 21-01-2002 của UBND huyện T, tỉnh Quảng Ngãi đã cấp cho hộ ông Bùi Tấn N và hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 114/QĐ-UBND ngày 23-02-2012 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Hủy một phần quyết định số 39/2002/QĐ-UB ngày 17-01-2002 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng của UBND huyện T, tỉnh Quảng Ngãi đối với số thứ tự 117 (danh sách kèm theo) cấp cho hộ ông Bùi Tấn N

9. Buộc bà Đỗ Thị Ngọc C phải hoàn trả 1.700.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản lại cho cụ Nguyễn Thị Q.

10. Về án phí:

Cụ Nguyễn Thị Q được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Đỗ Thị Ngọc C phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22-3-2017 nguyên đơn cụ Nguyễn Thị Q có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà Đỗ Thị Ngọc C và các con bà Đỗ Thị Ngọc C phải tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng trên đất để trả lại đất cho cụ và cụ không đồng ý trả giá trị tài sản 118.672.500đ cho bà Cẩm và các con.

Ngày 21-3-2017, bị đơn bà Đỗ Thị Ngọc C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Tại phiên tòa bà Đỗ Thị Ngọc C thay đổi nội dung kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Bác đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q yêu cầu Tòa án buộc bà và các con bà trả lại ½ diện tích đất 2878,8m2 và nhà ở; Công nhận diện tích đất 792m2 do bà và các con bà lấn chiếm sử dụng ổn định để bà và các con bà đến cơ quan Nhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với diện tích 792m2thửa đất số 628, tờ bản đồ số 6 thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi:

Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý buộc tháo dỡ các công trình trên đất, nhưng lại buộc bà Đỗ Thị Ngọc C và các con bà Đỗ Thị Ngọc C phải tháo dỡ các công trình trên đất để trả lại đất cho cụ Q là vi phạm Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự năm  2015.

Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý buộc bồi thường giá trị tài sản trên đất, nhưng lại tuyên buộc cụ Q phải trả lại cho mẹ con bà Đỗ Thị Ngọc C số tiền 118.672.500 đồng là không phù hợp với Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ở cấp sơ thẩm cụ Q chỉ yêu cầu gia đình bà Đỗ Thị Ngọc C trả lại nhà đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Bùi Tấn N, chứ không buộc bà Đỗ Thị Ngọc C phải tháo dỡ các công trình trên đất, nên cấp phúc thẩm không thể thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, quá trình xem xét giải quyết tránh sự thất thoát trong xây dựng nên cấp sơ thẩm đã tuyên cụ Q tiếp tục nhận một số công trình, vật kiến trúc trên đất còn giá trị sử dụng của mẹ con bà Đỗ Thị Ngọc C và buộc cụ Q thối lại giá trị cho mẹ con bà Đỗ Thị Ngọc C là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

Cụ Q chỉ khởi kiện yêu cầu bà Đỗ Thị Ngọc C trả lại 1.448m2là tài sản chung của vợ chồng cụ, nhưng khi đo đạc thực tế thì diện tích đất tăng lên 2.878,8m2(tăng 1.390,8m2). UBND huyện T và UBND thị trấn T cho rằng diện tích tăng lên là do một phần mở đường còn lại, một phần do phương pháp đo đạc trước đây và hiện tại khác nhau nên có sự chênh lệch, nhưng UBND các cấp cũng không xác định được bao nhiêu m2tăng lên do đo đạc và bao nhiêu m2tăng lên là do quá trình sử dụng gia đình bà Đỗ Thị Ngọc C lấn chiếm. Bà Đỗ Thị Ngọc C khai quá trình sử dụng gia đình bà đã lấn chiếm, tự ý san ủi mặt bằng thửa đất liền kề phía Tây khi mở đường và lấn chiếm con đường đi ở hướng Nam của thửa đất. Tổng cộng diện tích đất lấn chiếm là 792m2. Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm chưa làm rõ trong số diện tích đất tăng lên có bao nhiêu m2 tăng lên do đo đạc và bao nhiêu m2 tăng lên là do quá trình sử dụng gia đình bà Đỗ Thị Ngọc C lấn chiếm.

Về án phí: Đây là vụ án tranh chấp đòi lại tài sản mà Tòa án xác định giá trị của tài sản và xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo phần, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tuyên bà Đỗ Thị Ngọc C phải chịu án phí 200.000 đồng là không đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Những vi phạm về nội dung và hình thức như đã phân tích trên của cấp sơ thẩm nhưng cấp phúc thẩm cũng chưa thể khắc phục được. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/DS-ST ngày 07-3-2017 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; Giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng: Nguyên đơn chỉ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn và các con bị đơn tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc để trả lại đất như án sơ thẩm đã tuyên. Cụ Q không đồng ý thanh toán lại giá trị vật kiến trúc cho bị đơn và các con bị đơn số tiền 118.672.500 đồng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét hiện nay một số công trình trên đất mà bị đơn và các con bị đơn đã xây dựng kiên cố, có giá trị lớn nếu đập phá thì sẽ gây lãng phí.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng: Năm 1999, cụ Q tự nguyện bảo vợ chồng ông Bùi Tấn N, bà Đỗ Thị Ngọc C về sống chung với Cụ. Vợ chồng ông Bùi Tấn N, bà Đỗ Thị Ngọc C xây dựng nhà dưới liền kề nhà trên của cụ Q, nhưng cụ Q không phản đối gì. Năm 2000, ông Bùi Tấn N đi đăng ký kê khai làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ thửa đất số 628, tờ bản đồ số 6, diện tích 1488m2 và được UBND huyện T, tỉnh Quảng Ngãi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất này, cụ Q và các con cụ Q đều biết nhưng không ai tranh chấp, khiếu nại. Qúa trình sử dụng đất, vợ chồng ông Bùi Tấn N, bà Đỗ Thị Ngọc C đã xây dựng 18 công trình để kinh doanh quán cà phê có tổng giá trị theo Hội đồng định giá cấp sơ thẩm đã định là 924.263.520đ, nhưng cụ Q và các con cụ Q không ai tranh chấp, khiếu nại. Như vậy, có căn cứ cụ Q đã thống nhất cho vợ chồng ông Bùi Tấn N, bà Đỗ Thị Ngọc C nhà thuộc sở hữu của cụ Q và ½ thửa đất số 628, tờ bản đồ số 6 thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Trong quá trình quản lý, sử dụng nhà đất tại thửa đất số 628, tờ bản đồ số 6 vợ chồng ông Bùi Tấn N, bà Đỗ Thị Ngọc C đã lấn chiếm diện tích đất nông nghiệp do UBND thị trấn T quản lý, đường đi phía Tây và một phần đường đi phía Nam với diện tích 792m2, trong đó: Lấn ở phía Tây diện tích 672m2, lấn ở phía Nam 120m2. Diện tích đất lấn chiếm này bà Đỗ Thị Ngọc C và các con bà Đỗ Thị Ngọc C sử dụng ổn định, phù hợp với quy hoạch của Nhà nước.

Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 10 Luật đất đai năm 2013, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Án lệ số 03/2016/AL về vụ án “Ly hôn” sửa Bản án sơ thẩm số 01/2017/DS-ST ngày 07-3-2017 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi theo hướng: Bác đơn khởi kiện của cụ Nguyễn Thị Q yêu cầu Tòa án buộc bà Đỗ Thị Ngọc C và các con bà Đỗ Thị Ngọc C trả lại ½ diện tích 2878,8m2và nhà ở; Công nhận diện tích đất 792m2 do bà Đỗ Thị Ngọc C và các con bà Đỗ Thị Ngọc C lấn chiếm sử dụng ổn định để bà Đỗ Thị Ngọc C và các con bà Đỗ Thị Ngọc C đến cơ quan Nhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với diện tích 792m2thửa đất số 628, tờ bản đồ số 6 thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN