Luật sư vấn về đồng phạm

0đ
Mã Tư Vấn Pháp Luật:
Tình trạng:
Còn hàng

căn cứ khách quan gồm căn cứ vào số lượng người tham gia trong vụán, căn cứ vào tính liên kết về hành vi cùng thực hiện một tội phạm, căn cứ vàohậu của do vụ án đồng phạm gây ra.

- Căn cứ và số lượng ngườitrong vụ án: Điều 20 Bộ luật Hình sự quy định trong vụ án đồng phạm phải có từhai người trở lên, những người này đều phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự,đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ vào tính liên kết vềhành vi: Những người trong vụ án đồng phạm phải cùng nhau thực hiện một tộiphạm. Hành vi của người đồng phạm này liên kết chặt chẽ với hành vi của ngườiđồng phạm kia. Hành vi của những người đồng phạm phải hướng về một tội phạm,phải tạo điều kiện, hỗ trợ cho nhau để thực hiện một tội phạm thuận lợi, nóicách khác hành vi của đồng phạm này là tiền đề cho hành vi của đồng phạm kia.Hành vi của tất cả những người trong vụ án đồng phạm đều là nguyên nhân dẫn đếnhậu quả tác hại chung của tội phạm. 

- Căn cứ vào hậu quả tác hại:Hậu quả tác hại do tội phạm gây ra trong vụ án đồng phạm là hậu quả chung dotoàn bộ những người đồng phạm gây ra. Hành vi của mỗi người trong vụ án đề lànguyên nhân gây ra hậu quả chung ấy, mặc dù có người trực tiếp, người gián tiếpgây ra hậu quả tác hại. Đây là đặc điểm về quan hệ nhân quả trong vụ án đồngphạm.

Thứ hai: Căn cứ chủ quan. Tất cả những người trong vụ án đồng phạm phảicó hình thức lỗi cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Tất cả họ đều thấy rõ hànhvi của toàn bộ những người trong vụ án đềy nguy hiểm cho xã hội. Mỗi người đồngphạm đều thấy trước hành vi của mình và hành vi của người đồng phạm khác trongvụ án đồng phạm là nguy hiểm, thấy trước hành vi của tất cả những người đòngphạm đều là nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại. Vụ án có yếu tố đồng phạm khácvụ án thông thường do một người thực hiện ở những điểm sau đây:

- Vụ án có yếu tố đồng phạm cóhai người trở lên, còn vụ án khác chỉ có một người thực hiện.

- Thông thường vụ án đồng phạmcó tính chất, mức độ ngy hiểm hơn vụ án do một người thực hiện.

- Vụ án đồng phạm có hình thứclõi cố ý, còn vụ án do một người thực hiện có thể cố ý hoặc vô ý.

- Hành vi của những người trongvụ án đồng phạm có sự liên kết chặt chẽ để cùng thực hiện một tội phạm, cònhành vi của người phạm tội đơn lẻ không liên kết với ai. 

- Hậu quả tác hại trong vụ ánđồng phạm là hậu quả chung do toàn bộ những người đồng phạm gây ra, hậu quả táchại trong vụ án do một người thực hiện là hậu quả riêng do chính hành vi củangười đó gây ra.

Có thể lấy ví dụ để phân biệt hai trường hợp mà bạn thắc mắc như sau:Hai người A và B cùng thực hiện một hành vi đó là trộm cắp tài sản nhưng sẽ cóhai trường hợp sau: 

Trường hợp 1 nếu hai người này có sự chuẩn bịtrước, bàn bạc thảo luận với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức, cáchthức... thực hiện tội phạm thì hai người A và B trong trường hợp này là đồngphạm. 

Trường hợp 2 là A và B không hứa hẹn, khôngcó sự chuẩn bị trước mà cùng trộm đồ của gia đình nào đó thì hành vi của A và Btrong trường hợp này không được coi là đồng phạm. Trong trường hợp này A và Bsẽ bị truy tố độc lập về tội trộm cắp tài sản. Vì thế có thể phân biệt trườnghợp này với đồng phạm với những lí do sau:

- Với loại tội ở trường hợp 2 thì tội phạmkhông có mốt liên hệ với nhau, không cùng nhau vạch ra kế hoạch, cách thức vàphân công nhiệm vụ rõ ràng trong vụ án...

- Với đồng phạm thì hoàn toàn ngược lại vớitrường hợp 1 trên. Các đối tượng trong đồng phạm thì có mối quan hệ gắn bó,liên kết với nhau. Trước khi hành động thì các đối tượng này đã vạch sẵn kếhoạch cho từng người, từng giai đoạn thực hiện....

Hiện nay theo quy định của Bộ luật hình sựthì: 

"Đồng phạm là trường hợp có hai ngườitrở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.”

Theo đó đồng phạm là một khái niệm pháp lýnói lên quy mô tội phạm, được thực hiện trong một vụ án có nhiều người thamgia, có sự kết cấu, liên kết chặt chẽ giữa những đối tượng đó.

Có hai loại đồng phạm: là đồng phạm giản đơnvà đồng phạm có tổ chức

- Đồng phạm giản đơn: là tất cả những ngườicùng thực hiện một tội phạm đều là người thực hành

- Đồng phạm có tổ chức là đồng phạm có sự câukết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Trong vụ đồng phạm tùyvào quy mô và tính chất mà có thể có những người giữ vai trò khác nhau: ngườitổ chức, người xúi giục, người thực hành, người giúp sức

+ Phạm tội có tổ chức,là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch rakế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầmđầu. Đây còn là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò củanhững người tham gia. Trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi vàphải chịu sự điều khiển của người cầm đầu

+  Người thực hành làngười trực tiếp thực hiện tội phạm. Trực tiếp thực hiện tội phạm là trực tiếpcó hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm như: trực tiếp cầm daochém nạn nhân, cầm súng bắn nạn nhân, trực tiếp chiếm đoạt tài sản, trực tiếpnhận hối lộ v.v… Người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiêntội phạm, vì họ là người trực tiếp thực hiên tội phạm. Dù là đồng phạm giản đơnhay  phạm tội có tổ chức thì bao giờ cũng có người thực hành. Nếu không cóngười thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mụcđích tội phạm không được thực hiện;

+Người xúi dục là ngườikích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Hành vi kích động, dụdỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm chỉ được coi là người đồng phạmtrong vụ án có tổ chức, khi hành vi xúi dục có liên quan trực tiếp đến toàn bộhoạt động tội phạm của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạmtrước khi bị xúi dục chưa có ý định tội phạm, vì có người khác xúi dục nên họmới nảy sinh ý định tội phạm. Nếu việc xúi dục không liên quan trực tiếp đếnhoạt động tội phạm của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạmđã có sẵn ý định tội phạm, thì không phải là người xúi dục trong vụ án có đồngphạm (phạm tội có tổ chức). Tuy nhiên, nếu xúi dục trẻ em dưới 14 tuổi phạmtội, người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện tội phạm, thì hànhvi xúi dục được coi là hành vi thực hành thông qua hành vi của người không chịutrách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này, người không phải chịu trách nhiệmhình sự trở thành công cụ để người xúi dục thực hiện tội phạm. Nếu xúi dục trẻem từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tội phạm thì người xúi dục còn phải chịu tìnhtiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi dục người chưa thành niên tộiphạm” 

+  Người giúp sức:là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tộiphạm. Trong 1 vụ án có đồng phạm, vai trò của người giúp sức cũng rất quantrọng, nếu không có người giúp sức thì người thực hiện tội phạm cũng gặp khókhăn. Ví dụ: H hứa với T sẽ tiêu thụ toàn bộ số tài sản nếu T trộm cắp được. Cósự hứa hẹn của H nên đã thúc đẩy T quyết tâm phạm tội vì đã có nơi tiêu thụ tàisản trộm cắp được.

Người giúp sức có thể giúp bằng lời khuyên,lời chỉ dẫn, cung cấp phương tiện phạm tội hoặc khắc phục những trở ngại choviệc thực hiện tội phạm, hứa che giấu người phạm tội, phương tiện, xóa dấu vết,hứa tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có.

Khoản 2 Điều 2 Bộ luật hình sựnăm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 có quy định về người xúi giụcnhư sau:

"Ngườixúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.”

Đặc điểmcủa người xúi giục là tác động đến tư tưởng và ý chí của người khác, khiếnngười này phạm tội. Người xúi giục có thể là người đã nghĩ ra việc phạm tội vàđã thúc đẩy cho tội phạm có được thực hiện thông qua người khác. Do vậy, có thểgọi người xúi giục là tác giả tinh thần của tội phạm. Nhưng người xúi giục cũngcó thể chỉ có tác động thúc đẩy người khác thực hiện ý định phạm tội đã có.Người xúi giục cũng có thể cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm nhưng cũngcó thể không. Sự xúi giục có thể được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn như kíchđộng, lôi kéo, cưỡng ép, dụ dỗ, lừa phỉnh. Trong vụ án cụ thể, việc nghiên cứucác thủ đoạn của người xúi giục là cần thiết, một mặt để xác định là chínhnhững biện pháp ấy đã tác động đến người bị xúi giục, đưa người này đến chỗphạm tội. Mặt khác cũng để thấy là người bị xúi giục, tuy có bị thúc đẩy nhưngđã tự ý mình phạm tội.

Hành vixúi giục phải trực tiếp, nghĩa là kẻ xúi giục phải nhằm vào một hoặc một sốngười nhất định. Việc kêu gọi, hô hào mà không hướng tới những người xác địnhthì không phải là hành vi xúi giục.

Hành vixúi giục phải cụ thể, nghĩa là phải nhằm gây ra việc thực hiện tội phạm nhấtđịnh. Việc truyền bá, phổ biến, gieo rắc những tư tưởng xấu cho một người hoặcmột số người và khiến những người này đi vào con đường phạm tội cũng không phảilà hành vi xúi giục trong đồng phạm mà chỉ có thể cấu thành tội độc lập khácnhư tội dụ dỗ, ép buộc… người chưa thành niên phạm tội (Điều 252 Bộ luật hìnhsự).

Về mặt chủquan, cần xác định người xúi giục cần có ý định rõ ràng thúc đẩy người phạmtội. Những người có lời nói hoặc việc làm có thể gây ảnh hưởng đến việc phạmtội của người khác nhưng không có ý định thúc đẩy người này phạm tội thì cũngkhông phải là người xúi giục.

Hành vixúi giục có mức độ nghiêm trọng khác nhau, tùy bản chất của người xúi giục vàngười bị xúi giục cũng như tùy mối quan hệ giữa họ với nhau. Lợi dụng chức vụ,quyền hạn, tôn giáo, tín ngưỡng, sự nhẹ dạ của những người chưa thành niên đểthúc đẩy họ phạm tội là những trường hợp nghiêm trọng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Bộ luật hình sự thì Đồng phạm làtrường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Đồng phạm là một khái niệm pháp lý nói lênquy mô tội phạm, được thể hiện trong một vụ án có nhiều người tham gia. Tuynhiên, không phải cứ có nhiều người tham gia là đồng phạm, mà nhiều người thamgia đó phải cố ý cùng thực hiện một tội phạm, nếu có nhiều người phạm tội nhưngkhông cùng thực hiện một tội phạm thì không gọi là đồng phạm. Ví dụ: A cắt khoávào nhà kho lấy trộm một chiếc ti vi, B nhìn thấy, đợi A bê ti vi ra ngoài sauđó lẻn vào nhà kho lấy trộm một chiếc quạt bàn và một số phụ tùng xe máy. khira khỏi kho được 200 m thì cả A và B đều bị bảo vệ cơ quan phát hiện bắt giữ.Tuy cả A và B đều thực hiện tội trộm cắp tài sản nhưng không cùng thực hiện,nên không coi trường hợp tội phạm của A và B là đồng phạm.

 Chế định đồng phạm quy định trong Bộluật hình sự có hai loại mà theo khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm giảnđơn và đồng phạm phức tạp (phạm tội có tổ chức).

Đồng phạm giản đơn là trường hợptất cả những người cùng thực hiện một tội phạm đều là người thực hành. Ví dụ: Arủ B và C vào trong kho của Công ty H lấy trộm một máy bơm nước.

Phạm tội có tổ chức là hình thứcđồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm(khoản 3 Điều 20 Bộ luật hình sự)

Phạm tội có tổ chức, là trường hợp nhiềungười cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thựchiện một tội phạm, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu.

Phạm tội có tổ chức, là một hình thức đồngphạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia. Trong đó mỗingười thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của ngườicầm đầu.

Phạm tội có tổ chức khác với tổ chức tộiphạm. Hình luật xã hội chủ nghĩa không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mộttổ chức (pháp nhân), vì vậy, không có khái niệm tổ chức tội phạm trong luậthình sự Việt Nam. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử vẫn có thể có một tập thểmột tổ chức tội phạm, tức là có sự thống nhất từ người đứng đầu đến các nhânviên thực hiện một tội phạm, nhưng khi truy cứu trách nhiệm hình sự thì chỉtruy cứu từng các nhân trong tổ chức đó. Ví dụ: Trong vụ án Tân Trường Sanh, cómột đơn vị là Phòng chống buôn lậu thuộc Cục hải quan thành phố Hồ Chí Minh đãtổ chức nhận hối lộ. Việc nhận hối lộ ở đây không phải do từng cá nhân thựchiện mà là do phòng thực hiện, người đưa hối lộ cũng không đưa cho một cá nhânnào mà đưa chung cho cả Phòng, Phòng cử người nhận tiền hối lộ và chia cho tấtcả những người khác theo phương thức người có chức vụ nhiều hơn nhân viên,người có thời gian công tác ở Phòng lâu hơn được chia nhiều hơn. Tuy Phòngchống buôn lậu không phải là tổ chức chuyên tội phạm, nhưng nếu xét riêng vềhành vi nhận hối lộ thì họ là tổ chức nhận hối lộ.

Hiện nay, cũng có ý kiến cho rằng, Bộ luậthình sự nước ta cần quy định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với “nhómtội phạm có tổ chức” để trừng trị một số đối tượng thành lập hoặc tham gia nhómtội phạm có tổ chức để thực hiện một số tội đặc biệt nguy hiểm như: khủng bố,giết người rửa tiền, buôn bán người, sản xuất, mua bán trái phép chất ma tuý…Tuy nhiên, theo tôi, cần cân nhắc kỹ vấn đề này, vì Bộ luật hình sự đã quy địnhcác hành vi phạm tội khủng bố, rửa tiền, buôn bán người, sản xuất và mua bántrái phép chất ma tuý và một số tội phạm khác. Đối với các tội phạm này, nếu làphạm tội có tổ chức thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạtnặng hơn. Nếu quy định thêm một hành vi phạm tội mới mà hành vi phạm tội đó đãđược quy định tại các điều luật thì áp dụng thế nào ? Khái niệm tội phạm theoĐiều 8 Bộ luật hình sự đã nêu rất rõ, còn phạm tội có tổ chức Điều 20 Bộ luậthình sự cũng nêu cụ thể đã bao hàm cả nhóm phạm tội có tổ chức rồi. Giả thiết,có một nhóm được thành lập ra để thực hiện một hoặc một số tội phạm nào đónhưng vì lý do khách quan mà chưa thực hiện được thì đã thuộc trường hợp chuẩnbị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt và tuỳ trường hợp mà bị xử lý theo quy địnhcủa Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Bộ luật hình sự còn có chế định “tự ý nửa chừngchấm dứt việc phạm tội” (Điều 19). Vậy “nhóm tội phạm có tổ chức” chưa thựchiện hành vi phạm tội mà tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” thì giải quyếtthế nào, đó là chưa kể đến việc xác định vai trò của từng người trong “nhóm tộiphạm có tổ chức đó”.

Phạm tội có tổ chức khác với người tổ chứctrong đồng phạm, vì người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu chỉ huy việc thựchiện tội phạm, nói lên vai trò nhiệm vụ của một người trong một vụ án có đồngphạm, còn  phạm tội có tổ chức lại nói lên quy mô của tính chất, mức độnguy hiểm mà tội phạm đó đã xảy ra. Tất nhiên trong phạm tội có tổ chức cóngười tổ chức (người cầm đầu),

Phạm tội có tổ chức cũng khác với hành vi tổchức trong một số tội phạm như tổ chức tảo hôn (Điều 148) tổ chức sử dụng tráiphép chất ma tuý (Điều 197), tổ chức đánh bạc (Điều 249), tổ chức người kháctrốn đi nước người hoặc ở lại nước ngoài trái phép (Điều 275). Phạm tội có tổchức là nói đến quy mô, tính chất của tội phạm, còn khái niệm "tổchức" trong các tội phạm cụ thể nêu ở trên là hành vi phạm tội. Phạm tộicó tổ chức, nhất thiết phải có từ hai người trở lên, là một hình thức đồng phạmcó sự cấu kết chặt chẽ, có sự phân công trách nhiệm...còn tổ chức đánh bạc, tổchức tảo hôn, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý... có thể chỉ có một ngườicũng có thể thực hiện được hành vi phạm tội tổ chức...

Trong vụ án đồng phạm có tổ chức tuỳ thuộcvào quy mô và tính chất mà có thể có những người giữ những vai trò khác nhaunhư: Người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức.

Người tổ chức là người chủmưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Chỉ trong trường hợp  phạmtội có tổ chức mới có người tổ chức. Người tổ chức có thể có những hành vi như:khởi xướng việc tội phạm; vạch kế hoạch thực hiện tội phạm cũng như kế hoạchche giấu tội phạm; rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm; phân côngtrách nhiệm cho những người đồng phạm khác để thống nhất thực hiện tội phạm;điều khiển hành động của những người đồng phạm; đôn đốc, thúc đẩy người đồngphạm khác thực hiện tội phạm...

Người thực hành là người trựctiếp thực hiện tội phạm. Trực tiếp thực hiện tội phạm là trực tiếp có hành vithuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm như: trực tiếp cầm dao chém nạnnhân, cầm súng bắn nạn nhân, trực tiếp chiếm đoạt tài sản, trực tiếp nhận hốilộ v.v... Người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiên tộiphạm, vì họ là người trực tiếp thực hiên tội phạm. Dù là đồng phạm giản đơnhay  phạm tội có tổ chức thì bao giờ cũng có người thực hành. Nếu không cóngười thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mụcđích tội phạm không được thực hiện; hậu quả vật chất của tội phạm chưa xảy ravà trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác sẽ được xem xét theoquy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự (chỉ chuẩn bị phạm một tội rất nghiêmtrọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Tráchnhiệm hình sự của những người đồng phạm khác rõ ràng phụ thuộc vào hành vi củacủa người thực hành.

Thực tiễn xét xử cho thấy, không phải bao giờngười thực hành cũng thực hiện đúng những hành vi do các đồng phạm khác đặt ra,có trường hợp người thực hành tự ý không thực hiện tội phạm hoặc tự ý nửa chừngchấm dứt việc thực hiên tội phạm, nhưng thực tế cũng không ít trường hợp ngườithực hành tự ý thực hiện những hành vi vượt quá yêu cầu của các đồng phạm khácđặt ra, Khoa học luật hình sự gọi là hành thái quá của người thực hành trong vụán có đồng phạm. Luật hình sự của nhiều nước ghi ró chế định “thái quá’ củangười thực hành trong Bộ luật hình sự hoặc trong các văn bản luật hình sự. ởnước ta chế định này chưa được ghi trong Bộ luật hình sự, nhưng về lý luận cũngnhư thực tiến xét xử đều thừa nhận chế định này khi cần phải xem xét đến tráchnhiệm hình sự  của người thực hành cũng như những người đồng phạm kháctrong một vụ án có đồng phạm. Hiện nay, đa số ý kiến cho rằng khi Bộ luật hìnhsự của nước ta được sửa đổi bổ sung một cách căn bản, cần quy định chế định“hành vi thái quá của người thực hành” cùng với chế định đồng phạm đã được quyđịnh tại Điều 20 Bộ luật hình sự.

Về lý luận cũng như thực tiễn xét xử đã khẳngđịnh, hành vi thái quá của người thực hành trong vụ án có đồng phạm và hậu quảdo hành vi thái quá đó gây ra chỉ người thực hành phải chịu trách nhiệm hình sựcòn những người đồng phạm khác không phải chịu về sự “thái quá” đó. Như vây,khi nghiên cứu tình trạng loại trừ trách nhiệm hình sự của những người đồngphạm khác đối với hành vi thái quá của người thực hành chúng ta chỉ có thểnghiên cứu nội dung của sự “thái quá” mà người thực hành đã gây ra, từ đó xácđịnh trách nhiệm hình sự của người thực hành về hành vi thái quá đó mà loại trừtrách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác.

Hành vi thái quá của người thực hành làtrường hợp người thực hành tự ý thực hiện hành vi phạm tội mà những người đồngphạm khác không mong muốn. Hay nói cách khác là hành vi phạm tội của người thựchành mà những người đồng phạm khác không có ý định thực hiện. Ví dụ: Trần QuangA, Nguyễn Văn C, Bùi Quốc T, Bùi Quốc L vì thua bạc nên Bùi Quốc T bàn bạc vớiđồng bọn về nhà mình doạ mẹ của T để buộc mẹ của T phải đưa chìa khoá tủ mở lấytiền tiếp tục đi đánh bạc, cả bọn đồng ý. Vì T và L là anh em và là con của bàM, nên chúng giao cho A và C trực tiếp thực hiện. Trước khi đi cả bon thốngnhất chỉ doạ bà M để bà đưa chìa khoá tủ chứ không được làm bất cứ điều gì gâyđau đớn cho bà. T và L còn nói, nếu má tao có sao chúng mày đừng có trách. Saukhi đã bàn bạc thống nhất, vào lúc nửa đêm A và C lẻn vào nhà bà M, lợi dụnglúc bà M đang ngủ, A dùng tay chẹn vào cổ bà M, còn C doạ : “chìa khoá tủ để ởđâu không đưa đây chúng tao giết !”. Bị tấn công bất ngờ, bà M không kịp trởtay buộc phải đưa chùm chìa khoá cho C. Trong lúc C đang mở tủ để lục soát tìmtiền, thì A dùng một quả chanh nhét vào miệng bà M và lấy khăn bịt miệng bà Mlại, nhưng vì bà M giãy giụa làm quả chanh trong miệng bật ra, đồng thời bà Mkêu cứu. Sợ bị lộ, A vật bà M xuống ngồi lên bụng bà, rồi dùng tay bóp cổ bàcho đến khi bà M không còn giãy giụa nữa A mới bỏ tay ra. C thấy A hành độngnhư vậy hỏi, sao mày làm thế,  thì A trả lời, bà ấy chỉ xỉu thôi khôngchết đâu mà sợ. Cùng lúc này C đã lục tủ lấy được bọc tiền của bà M rồi cả haibỏ chạy ra điểm hẹn với T và L. Thấy A và C đến T hỏi ngay má tao có sao không,cả A và C đều trả lời không việc gì hết. T bào L về nhà xem tình hình còn T, Avà C tiếp tục đi đánh bạc. Khi L về nhà thấy má mình bất động đã đưa đi bệnhviện cấp cứu, nhưng bà M đã chết. Trường hợp này, ngay từ khi bàn bạc phạm tội,chúng thống nhất chỉ làm cho bà M sợ để bà đưa chìa khoá tủ, nhưng trong khithực hiện tội phạm A đã có hành vi thái quá làm cho bà M bị chết, vì vậy chỉ cóA bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người, cong C, T, L chỉ bị truycứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản của công dân.

Thực tiễn xét xử cho thấy hành vi thái quácủa người thực hành không đơn giản mà nó được biểu hiện dưới nhiều khía cạnhkhác nhau như: lúc đầu chỉ bàn cướp nhưng khi thực hiện lại giết người; lúc đầuchỉ bàn đánh cho một trận nhưng khi thực hiện lại lấy tài sản của người bịđánh; lúc đầu bàn bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng khi thực hiện việc bắtcóc lại hiếp dâm; lúc đầu chỉ bàn trộm trâu nhưng khi thực hiện lại trộm cả lợnvà gà v.v...Chính vì tội phạm xảy ra muôn hình muôn vẻ nên khoa học luật hìnhsự chia hành vi thái quá ra làm hai loại chính: Thái quá về chất lượng của hànhvi và thái quá về số lượng của hành vi.

- Tháiquá về chất lượng của hành vi là trường hợp người thực hành trong vụán có đồng phạm thực hiện hành vi thái quá đó không cùng tính chất với tội phạmmà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện, nếu hành vi thái quá cấuthành tội phạm thì tội phạm đó không cùng tính chất với tội phạm mà những ngườiđồng phạm khác có ý định thực hiện. Ví dụ: Trần Văn Tuấn bàn với Đặng Văn Hùngvà Phạm Quốc Hưng chặn đường để cướp của, nhưng trước khi đi, Hùng ở nhà vìphải đưa con đi bệnh viên, nên chỉ có Tuấn và Hưng thực hiện. Khi phát hiệnthấy người đi xe máy chạy qua, Hưng và Tuấn ra chặn lại để cướp tài sản thìphát hiện người đi xe máy là một phụ nữ, nên cả hai tên nảy ý định hiếp dâm vàchúng đã thực hiện hành vi hiếp dâm, đồng thời lấy của nạn nhân sợi dây chuyền.Hành động xong, Hưng và Tuấn về kể cho Hùng nghe đã cướp được dây chuyền vàng,hôm sau Hùng mang dây chuyền đi bán thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Trong quátrình điều tra, Hùng mới biết ngoài hành vi cướp tài sản thì Hưng và Tuấn cònhiếp dâm người bị hại. Hành vi thái quá của Hưng và Tuấn là hành vi thái quá vềchất lượng vì tội hiếp dâm không cùng tính chất với tội cướp tài sản. Việc xác định thái quá về chất lượng không mấy khó khăn và cũng chính vì thế màxác định trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạmkhác không phải là người thực hành cũng dễ dàng hơn so với trường hợp thái quávề số lượng hành vi.

- Tháiquá về số lượng hành vi là trường hợp người thực hành trong vụ án cóđồng phạm thực hiện hành vi thái quá, mà hành vi đó cùng tính chất với hành viphạm tội mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện. Về lý luận cũng nhưthực tiễn xét xử loại thái quá này rất khó xác định cho nên không ít trường hợprõ ràng là người thực hành trong vụ án có đồng phạm có hành vi thái quá nhưngnhững người đồng phạm khác vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tháiquá đó. Do đó để phân biệt hành vi đã thái quá hay chưa cần phải nghiên cứu nóở những mức độ khác nhau.

Trường hợp thứ nhất:

Hành vi thái quá của người thực hành trong vụán có đồng phạm đã cấu thành một tội phạm khác và tội phạm này cùng tính chấtvới tội phạm mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện. Ví dụ: Do cóthù tức với Đặng Văn Hoà, nên Trần Tuấn Anh, Phạm Quốc Bảo và Nguyễn Hồng Cangbàn bạc tìm Hoà để đánh cho Hoà một trận. Khi gặp Hoà, cả ba tên lao vào dùngchân tay đấm đá cho tới khi Hoà ngã gục. Thấy vậy, Bảo và Cang nói: “thôi thếlà đủ đừng đánh nữa không thì nó chết mất”, rồi Bảo và Cang bỏ đi. Nhưng TrầnTuấn Anh vẫn ở lại tiếp tục dùng gót chân thúc mạnh vào hai mạng sườn và dậnlên ngực Hoà cho tới khi Hoà bất tỉnh mới thôi. Hậu quả là Hoà bị chết. Kết quảgiám định kết luận Hoà bị chết là do bị vỡ lá lách, chảy máu trong, phổi xunghuyết mất máu cấp. Với hành vi phạm tội như trên Toà án cấp sơ thẩm và phúcthẩm đều kết án Trần Tuấn Anh, Phạm Quốc Bảo và Nguyễn Hồng Cang về tội giếtngười. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật Chánh án Toà án nhân dân tối cao đãkháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và Hội đồng giám đốc thẩm đã quyết định:kết án Trần Tuấn Anh về tội giết người còn Phạm Quốc Bảo và Nguyễn Hồng Cangkhông bị kết án về tội giết người mà chỉ bị kết án về tội cố ý gây thương tích vìxác định hành vi của Trần Tuấn Anh là hành vi thái quá nên Bảo và Cang khôngphải chịu về hậu quả do hành vi thái quá của Tuấn Anh gây ra. Trong vụ án này,hành vi thái quá của Trần Tuấn Anh đã cấu thành tội phạm khác (tội giết người)nhưng hành vi này cùng tính chất với hành vi của những người đồng phạm khác(cùng đấm đá, cùng xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của con người ).

Trường hợp thứ hai:

Hành vi thái quá của người thực hành chưa cấuthành tội phạm khác mà nó vẫn là tội phạm mà những người đồng phạm khác có ýđịnh thực hiện. Ví dụ: Lê Khắc Thâu là thủ kho, Trần Thị Mai là kế toán và VũVăn Ban là bảo vệ Công ty kinh doanh tổng hợp tỉnh bàn với nhau về việc vào lấytrộm 100 Kg mì chính (bột ngọt) ở kho do Thâu quản lý đem bán lấy tiền chianhau. Thâu và Ban được phân công trực tiếp vào kho lấy mì chính còn Mai cónhiệm vụ sửa chữa sổ sách để hợp thức hoá việc thiếu 100 Kg mì chính. Nhưngtrước khi vào kho lấy mì chính Thâu bàn với Ban lấy thêm 50 Kg để chia nhau màkhông cho Mai biết. Trường hợp phạm tội này, rõ ràng Ban và Thâu có hành vithái quá, nhưng hành vi thái quá này không cấu thành một tội phạm khác riêngbiệt, cả Mai, Thâu và Ban đều tội phạm tham ô tài sản, nhưng tính chất và mứcđội tội phạm của Ban và Thâu có khác Mai; trách nhiệm hình sự của Mai chỉ phảichịu cùng với Thâu và Ban về 100 Kg mì chính, còn Ban và Thâu phải chịu tráchnhiệm hình sự về 150 Kg mì chính.

Sự phân biệt hai loại hành vi thái quá nhưtrên chỉ có ý nghĩa trong công tác nghiên cứu khoa học, còn thực tiễn xét xử dùlà thái quá về chất lượng hay về số lượng của hành vi thì những người đồng phạmkhác đều không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi thái quá của ngườithực hành.

Đối với các vụ án phạm tội có tổ chức, khixác định những người đồng phạm khác có phải chịu trách nhiệm về hành vi tháiquá của người thực hành hay không cũng có nhiều phức tạp. Bởi vì trong quátrình thực hiện tội phạm, người thực hành có nhiều hành vi nhằm đạt được mụcđích mà những người đồng phạm khác mong muốn, trong đó có hành vi được nhữngngười đồng phạm khác biết trước và đồng tình, nhưng cũng có những hành vi khôngđược những người đồng phạm khác biết trước, không mong muốn hậu quả của nhữnghành vi đó xảy ra, nhưng có thái độ bỏ mặc, muốn ra sao thì ra. Vậy vấn đềtrách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác được xác định như thếnào khi người thực hành có những hành vi gây ra hậu quả mà mình không biết,không mong muốn ? Ví dụ: A, B và C chỉ bàn bạc với nhau về việc đến uy hiếp chủnhà để cướp tài sản. Khi đi chúng có mang theo dao găm, dây trói, giẻ và chanhđể bịt miệng. Tới nơi, A và B trói chủ nhà, nhét chanh vào miệng chủ nhà, lấygiẻ buộc lại và giao cho C canh giữ. Thấy giẻ bịt miệng chủ nhà tuột ra, C sợchủ nhà kêu cứu, nên đã bóp cổ làm chủ nhà bị chết ngạt. Về trường hợp này, cóý kiến cho rằng hành vi bóp cổ chủ nhà của C là hành vi thái quá nên C phạmgiết người và cướp tải sản còn A và B không chịu trách nhiệm về hành vi và hậuquả do hành vi thái quá của C nên chỉ phạm tội cướp tài sản. Tuy nhiên, xem xétmột cách toàn diện thì thấy:  Tuy A, B và C không bàn bạc với nhau từtrước về việc giết người, nhưng A và B bỏ mặc cho C hành động, không quan tâmđến hậu quả do hành vi của C gây ra miễn là cướp được tài sản; việc C bóp cổchủ nhà cũng là nhằm cho A và B thực hiện trót lọt việc lấy tài sản mà cả A vàB đều mong muốn. Do đó, cái chết của chủ nhà do C trực tiếp gây ra nhưng phảibuộc cả A và B cùng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi thái quá của người thực hành, về lýluận cũng như pháp luật của các nước trên thế giới còn có nhiều cách đánh giákhác nhau, nhưng qua thực tiễn xét xử ở nước ta cũng như một số nước thừa nhận:Nếu những người đồng phạm để cho người thực hành hoàn toàn tự do hành động nhằmđạt được mục đích của tội phạm mà những người đồng phạm khác có ý định thựchiện, thì hành mọi hành vi của người thực hành không được coi là hành vi tháiquá và những người đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi hành vicủa người thực hành gây ra. Tuy nhiên, khi xem xét hành vi của người thực hànhđược tự do hành đồng để đạt được mục đích mà các người đồng phạm khác đặt raphải chú ý một điểm là: Hành vi đó phải là dấu hiệu của cấu thành tội phạm màtội phạm đó đã được những người đồng phạm khác bàn bạc thống nhất như trườnghợp ví du trên hành vi bóp cổ chủ nhà của C cũng là hành vi vũ lực - dấu hiệucủa tội cướp tài sản, thì những người đồng phạm khác mới phải chịu trách nhiệmhình sự. Nếu hành vi đó lại là dấu hiệu cấu thành một tội độc lập khác thì hànhvi đó lại được coi là thái quá và những người đồng phạm khác không phải chịutrách nhiệm hình sự. Trong trường hợp ví dụ trên, giả thiết C không bóp cổ chủnhà chết mà lại hiếp dâm chủ nhà thì hành vi diếp dâm của C là hành vi thái quávà A, B không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm mà C thực hiện.

Việc để cho người thực hành tự do hành động,tức là người thực hành không bị ràng buộc bởi bất kỳ sự ràng buộc nào của nhữngngười đồng phạm khác. Nếu những người đồng phạm khác lại có hành vi ngăn cảnhay hành động tích cực để ngăn chặn hậu quả, nhưng người thực hành vẫn cố tìnhthực hiện, thì hành vi của người thực hành dù có là dấu hiệu câú thành tội phạmmà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện thì những người này cũngkhông phải chịu trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Trương Quang Tuấn, Vũ Minh Hùng vàHoàng Công Văn bàn bạc đến nhà cậu ruột của Văn để cướp. Văn không trực tiếpthực hiện mà giao cho Tuấn và Hùng thực hiện. Trước khi đi, Hoàng Công Văn dặn:chỉ được trói chủ nhà để uy hiếp lấy tài sản chứ không được gây án mạng. Vì sợTuấn và Hùng làm ẩu, Văn đã kiểm tra và giữ lại hai dao găm mà Tuấn và Hùngđịnh mang theo. Trên đường đến nhà cậu của Văn để cướp, Hùng và Tuấn tự ý vềnhà Hùng lấy một khẩu súng ngắn mà Hùng đã chuẩn bị từ trước, vì Hùng cho rằngkhông có vũ khí thì không thể làm gì được. Tới nơi, Hùng và Tuấn dùng súng uyhiếp bắt trói chủ nhà, rồi lục soát lấy tài sản. Trong khi đang lục soát thìchủ nhà tự cởi được trói, kêu cứu, Hùng đã dùng súng bắn chết chủ nhà. Trongtrường hợp này hành vi của Hùng cũng là hành vi nhằm thực hiện tội cướp mà Vănđã bàn bạc từ trước, nhưng Văn đã có những hành động tích cực nhằm hạn chế ngănchặn hậu quả nên Văn không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết do Hùng vàTuấn gây nên.

Thực tiễn xét xử cũng có những trường hợp nếuchỉ căn cứ vào hành động hoặc lời nói của những người đồng phạm khác (chủ mưu,tổ chức, xúi dục, giúp sức) thì thấy những người này có ý thức bỏ mặc hậu quảxảy ra do người thực hành thực hiện nên đã buộc những người này phải chịu tráchnhiệm về hậu quả mà người thực hành gây ra, nhưng căn cứ vào nội dung hành độngvà lời nói của những người này thì họ không có ý thức bỏ mặc cho hậu quả dongười thực hành gây ra. Ví dụ: Nguyễn Tiến N là đội phó đội điều tra Công anhuyện Y và Tống Viết Q là điều tra viên được phân công điều tra vụ án mà Hà VănT là người tiêu thụ tài sản do ngươì khác tội phạm mà có. Trong qúa trình điềutra, mặc dù có căn cứ đề xác định rằng T đã tiêu thụ 17 cái mày bơm bị trộm cắpchứ không phải chỉ có 4 cái như T thừa nhận, nên phải ra lệnh bắt giam T đểtiếp tục làm rõ hành vi phạm tội của T. T được giam chung với một số phạm nhântrong đó có Bùi Xuân Ph là tên đã có nhiều tiền án tiền sự được các phạm nhânkhác mệnh danh là “đầu gấu” trong buồng giam. Q đã nhiều lần lấy lời khai của Tnhưng T một mực không nhận, N và Q nói với Ph phải đánh cho T một trận thì nómới nhận. Để lấy lòng cán bộ điều tra và cũng vì sợ không đánh T thì sẽ khôngđược yên nên Ph đã tổ chức cho các phạm nhân cùng buồng đánh đập T rát dã manlàm cho T bị ngất xỉu phải đưa đi cấp cứu và bị chết. Khi xem xét trách nhiệmcủa Nguyễn Tiến N và Tống Viết Q có ý kiến cho rằng, mặc dù Q và N không có ýđịnh tước đoạt tính mạng của T từ trước, nhưng đã có ý thức bỏ mặc cho hậu quảxảy ra không có biện pháp ngăn chặn và việc Ph cùng các phạm nhân khác đánhchết T là do câu nói của Q và N: “đánh cho nó một trận để nó khai ra sự thật”.Do đó, N và Q phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người với vai trò xúidục. Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ nội dung lời nói của N và Q chúng ta thấy, nếu Nvà Q để mặc cho bọn Ph đánh chết anh T thì về thực tế không đạt được mục đíchlà làm cho T khai ra sự thật, còn về pháp lý nói đánh cho một trận để nó khaira chứ không phải đánh cho một trận cho nó biết thế nào là tù tội, hoặc mày cứđánh cho nó một trận muốn ra sao thì ra. Vì thế trong trường hợp này việc bọnPh đánh quá tay làm anh T bị chết là ngoài mục đích của N và Q, và hành vi củaPh và đồng bọn là hành vi thái quá của người thực hành nên những người đồngphạm khác không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên hành vi của N và Q nóiđánh cho nó một trận cũng tức là mong muốn cho T bị thương tích hoạc bị tổn hạiđến sức khoẻ, nên hành vi của N và Q phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự vềtội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 109 Bộ luật hình sự vì thuộc trườnghợp gây hậu quả chết người.

Tóm lại, vấn đề loại trứ trách nhiệm hình sựđối với những người đồng phạm khác (không phải là người thực hành) trong vụ áncó đồng phạm, không chỉ có liên quan đến hành vi thái quá của người thực hànhmà còn liên quan đến nhiều chế định khác như: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc tộiphạm, vấn đề lỗi, các điều kiện của đồng phạm và phạm tội có tổ chức.v.v...nhưng hành vi thái quá của người thực hành lại liên quan trực tiếp đến việcloại trừ trách nhiệm hình sự đối với người đồng phạm khác, nên có thể nói hànhvi thái quá của người thực hành chính là điều kiện (căn cứ) để loại trừ tráchnhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác.

Người xúi dục là người kínhđộng, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Hành vi kích động, dụ dỗ,thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm chỉ được coi là người đồng phạm trong vụán có tổ chức, khi hành vi xúi dục có liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt độngtội phạm của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm trước khibị xúi dục chưa có ý định tội phạm, vị có người khác xúi dục nên họ mới nảysinh ý định tội phạm. Nếu việc xúi dục không liên quan trực triếp đến hoạt độngtội phạm của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm đã có sẵn ýđịnh tội phạm, thì không phải là người xúi dục trong vụ án có đồng phạm (phạmtội có tổ chức). Ví dụ: Lê Tiến D đi thăm đồng thấy hai tốp thanh niên đangđuổi đánh nhau, D liền hô: đánh bỏ mẹ chúng nó đi ! nhưng không nói ai đánh aivà cũng chỉ hô như vậy rồi thôi. Sau đó hai tốp thành niên vẫn đuổi đánh nhaudẫn đến một thanh niên bị đâm chết. Hành vi của D tuy có vẻ xúi dục người khác,nhưng khi D có hành vi xúi dục thì ý định tội phạm của hai tốp thanh niên đã cósẵn từ trước nên hành vi xúi dục của D không có ý nghĩa gì đến việc phạm tộicủa hai tốp thanh niên này, dù D có hô hay không hô câu "đánh bỏ mẹ nóđi" thì cũng không làm thay đổi ý định tội phạm của só thanh niên này, nênkhông thể coi D là người xúi dục được.

Người xúi dục là người phạm tội giấu mặt, dângian thường gọi là người "ném đã giấu tay". Tuy nhiên, nếu xúi dụctrẻ em dưới 14 tuổi phạm tội, người không có năng lực trách nhiệm hình sự thựchiện tội phạm, thì hành vi xúi dục được coi là hành vi thực hành thông qua hànhvi của người không chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này, người khôngphải chịu trách nhiệm hình sự trở thành công cụ để người xúi dục thực hiện tộiphạm. Nếu xúi dục trẻ em từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tội phạm thì người xúi dụccòn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "xúi dục người chưathành niên tội phạm" (điểm n khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự ).

Trong trường hợp người xúi dục lại là ngườitổ chức và cùng thực hiện tội phạm, thì họ trở thành người tổ chức và nếu xúingười chưa thành niên tội phạm thì họ còn phải chịu tình tiết tăng nặng"xúi dục người chưa thành niên tội phạm".

Hành vi xúi dục phải cụ thể, tức là người xúidục phải nhằm vào tội phạm cụ thể và người phạm tội cụ thể. Nếu chỉ có lời nóicó tính chất thông báo hoặc gợi ý chung chung thì không phải là người xúi dụcvà không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của người thực hiệntội phạm. Ví dụ: Nguyễn Quang T cùng ngồi uống nước với một số thanh niên.Trong lúc uống nước, T nói: "Tao vừa đi qua Cảng thấy hàng về nhiều lắm,đêm nay đứa nào bạo gan ra đó nhất định kiếm được". Trong số thanh niênngồi uống nước có Trần Quốc P và Đặng Văn V là những tên đã có nhiều tiền án,tiền sự về tội trộm cắp, nghe T nói vậy, liền bàn nhau đến đêm ra Cảng trộm cắphàng. Khi bị bắt, P và V khai vì do T nói ở ngoài Cảng hàng về nhiều nên chúngtôi mới bàn với nhau ra Cảng trộm cắp. Đúng là trong trường hợp này, T cónói  một câu như có vẻ xúi dục, nhưng câu nói của T không phải là nguyênnhân trực tiếp dẫn đến việc P và V trộm cắp. Mặt khác, T cũng không phải làngười xúi dục P và V trộm cắp, cũng không được P và V hứa chia tiền hoặc tàisản nếu tộm cắp được.

Người giúp sức là người tạođiều những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Trongmột vụ án có đồng phạm, vai trò của người giúp sức cũng rất quan trọng; n??