1. Pháp luật quy định như thế nào về tài sản của vợ chồng?
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, tài sản của vợ chồng được xác lập theo một trong hai chế độ sau:
Thứ nhất, chế độ tài sản theo thỏa thuận.
Trước khi kết hôn, nam nữ sẽ thỏa thuận các vấn đề như: tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng; quyền và nghĩa vụ của hai bên với tài sản chung và riêng; các điều kiện, nguyên tắc khi chia tài sản nếu ly hôn,… và ghi nhận các nội dung này bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Theo đó, chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Thứ hai là chế độ tài sản theo luật định.
* Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm:
* Tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau:
3. Khi ly hôn, tài sản của vợ chồng được phân chia như thế nào?
Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có việc phân chia tài sản. Do đó, trước hết Toà án sẽ ưu tiên xem xét các thỏa thuận của vợ chồng.
Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án xem xét, quyết định. Theo đó, Tòa án sẽ xét tài sản của vợ chồng theo chế độ nào: chế độ tài sản theo thỏa thuận hay chế độ tài sản theo luật định? Nghĩa là Tòa án sẽ kiểm tra có văn bản thỏa thuận hợp pháp về chế độ tài sản của vợ chồng trước khi kết hôn hay không.
Đối với chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuậnthì Tòa án áp dụng theo thỏa thuận của vợ chồng để giải quyết. Nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng hoặc vô hiệu thì áp dụng quy định pháp luật.
Đối với chế độ tài sản của vợ chồng theo luật địnhthì ưu tiên để vợ chồng tự thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
4. Nguyên tắc để phân chia tỷ lệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Đối với tài sản riêng, thì tài sản riêng của vợ hoặc chồng thuộc quyền sở hữu riêng của người đó.
Đối với tài sản chung, được phân chia theo các nguyên tắc sau:
– Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
– Thứ hai, phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
– Thứ ba, nguyên tắc tài sản vợ chồng được chia đôi nhưng có xem xét 4 yếu tố để tính tỷ lệ tài sản mỗi người được nhận, cụ thể là:
Lưu ý: Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm.
Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.
Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.
Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì Tòa án xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.
5. Những trường hợp đặc biệt cần lưu ý
Hi vọng rằng những thông tin trên sẽ giúp những người đang có tranh chấp về tài sản vợ chồng trong quá trình ly hôn, có sự hiểu biết để bảo vệ quyền lợi cho mình.
Công ty Luật sẽ tiếp tục đưa ra những vấn đề pháp lý nóng hổi khác. Cảm ơn quý độc giả đã quan tâm theo dõi và ủng hộ!
Nếu có bất cứ thắc mắc gì, các bạn có thể liên hệ với chúng tôi để được giải đáp và hỗ trợ!