Vậy tôi phải chuẩn bị hồ sơ như nào để tiến hành ly hôn ? Tôi có thể nộp tại UBND nơi tôi đang ở được không?
Mong nhận được hồi âm từ phía Luật sư. Kính chúc Luật sư sức khỏe.
Luật sư tư vấn:
Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn chúng tôi. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:
Hiện nay theo quy định thì để ly hôn đơn phương theo Luật hôn nhân gia đình 2014 bạn cần chuẩn bị hồ sơ như sau:
1. Đơn xin ly hôn
2. Bản sao có chứng thực Giấy CMND, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng;
3. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.
Sau đó bạn nôp hồ sơ tại TAND cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú làm việc. Bởi theo quy định tại Điều 39 Bộ luật TTDS 2015 có quy đinh: Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của bạn là tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú.
Trường hợp không biết thông tin về nơi cư trú, làm việc của chồng bạn (bị đơn) thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết được quy tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, “nếu không biết nơi cư trú, làm việc,trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc,có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”.
Luật sư tư vấn:
Bạn cần lưu ý một số trường hợp sau:
Mặc dù quyền sử dụng đất đứng tên một mình người chồng nhưng bạn cần xem quyền sử dụng đất được cấp trong thời kỳ hôn nhân của bên bán hay không? Bởi theo quy định của pháp luật thì tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng ( trừ trường hợp nó là tài sản riêng của người chồng). Bạn cần làm rõ vấn đề nếu mua trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng bằng tài sản chung thì sẽ là tài sản chung của cả hai người.
Vì vậy khi muốn chuyển nhượng thì cần có sự đồng ý của cả hai người theo yêu cầu của văn phòng công chứng. Còn nếu như đây là tài sản riêng của chồng hoặc là tài sản chung của vợ chồng nhưng khi ly hôn đã thỏa thuận chia cho người chồng thì người chồng cần phải xuất trình chứng cứ chứng minh đây là tài sản riêng của người chồng thì sẽ không cần có chữ ký của người vợ.
Luật sư tư vấn:
Theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Trả lời:
Thông tin bạn trình bày, thì người đàn ông kết hôn với bạn trước đó đã cưới vợ được bảy tháng. Tuy nhiên, bạn người đang ông đó lại đang đăng ký kết hôn nên có thể hiểu trong trường hợp này bạn và người đán ông đó đang tồn tại quan hệ quan nhân theo quy định của pháp luật. Nên căn cứ cho ly hôn là:
Theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội:
" Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Người gửi: Liên
Trả lời:
Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau :
Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Như vậy, bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Cách đây 4 năm về trước chồng tôi về Việt Nam làm việc và có quen biết một cô gái, từ đó tới giờ họ vẫn qua lại với nhau. Nhưng mới đây tôi phát hiện ra họ đã cưới chui với nhau và đã có một bé gái được 4 tháng tuổi dù chưa ly hôn với tôi. Nhiều lần tôi đòi ly dị thì chồng tôi mang con trai ra dọa. Vậy theo luật sư thì tôi phải làm thế nào ạ?
Xin chân thành cảm ơn!
Trả lời:
Trong thời điểm quan hệ hôn nhân vợ chồng vẫn còn giá trị pháp lý, chồng bạn đã kết hôn với một người phụ nữ khác và đã có một bé gái 4 tháng tuổi. Điều này cho thấy anh ta đã vi phạm chế độ hôn nhân được pháp luật nước Cộng hòa Xã hội chủ Nghĩa Việt Nam bảo vệ, là trường hợp cấm kết hôn được quy định tại điểm c khoản 2 điều 5 Luật Hôn nhân gia đình 2014, cụ thể:
Cấm kết hôn giữa những người:
"Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ"
Trong trường hợp này, bạn là vợ, bạn có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chồng bạn và người phụ nữ kia. Sau khi yêu cầu của bạn được giải quyết, quan hệ giữa giữa vợ chồng giữa hai người đó đương nhiên bị hủy bỏ.
Tuy nhiên, nếu bạn cảm thấy tình trạng hôn nhân của bạn đã quá trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được có thể đơn phương yêu cầu giải quyết ly hôn (nếu chồng bạn không đồng ý). Bạn nên giao nộp những bằng chứng cần thiết để chứng minh điều này với Tòa án....
LS TRẦN MINH HÙNG, LS UY TÍN, LS GIỎI TRÊN TRUYỀN HÌNH
Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.