Vấn đề “Người nghiện có phải là tội phạm ma túy?” thường gây nhầm lẫn. Theo pháp luật Việt Nam, trạng thái nghiện (lệ thuộc vào ma túy) không mặc nhiên là tội phạm hình sự. Tuy nhiên, một số hành vi liên quan đến ma túy lại bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy trường hợp. Bài viết này tổng hợp, giải thích rõ ràng theo Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015, sửa đổi 2017, cập nhật 2025, đồng thời liên hệ với Luật Phòng, chống ma túy 2021 để bạn đọc – là người dân – hiểu và áp dụng đúng.
Lưu ý quan trọng: Từ 01/7/2025, có quy định mới về xử lý hình sự trong một số trường hợp sử dụng trái phép chất ma túy trong đó đặc biệt là tội sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, bạn nên đọc kỹ các phần “điểm mới 2025” ở dưới.
Nghiện ma túy là tình trạng, không phải là một tội danh trong BLHS. Do đó, bản thân việc “bị nghiện” không làm phát sinh trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên:
Trong Chương XX BLHS 2015 (sửa đổi 2017), nhóm tội ma túy bao gồm (liệt kê các điều thường gặp, dễ hiểu với người dân):
| Điều 247 | Trồng cây thuốc phiện, coca, cần sa hoặc cây khác có chứa chất ma túy |
| Điều 248 | Sản xuất trái phép chất ma túy |
| Điều 249 | Tàng trữ trái phép chất ma túy |
| Điều 250 | Vận chuyển trái phép chất ma túy |
| Điều 251 | Mua bán trái phép chất ma túy |
| Điều 252 | Chiếm đoạt chất ma túy |
| Điều 253 | Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy |
| Điều 254–259 | Các tội liên quan khác: chứa chấp, lôi kéo, cưỡng bức sử dụng; sản xuất, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng/ sản xuất ma túy; vi phạm quy định quản lý tiền chất, thuốc gây nghiện/ hướng thần… |
Trong khi trước đây hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chủ yếu bị xử phạt hành chính, thì từ 01/7/2025, pháp luật bổ sung xử lý hình sự với một số trường hợp cụ thể (thay vì “mọi trường hợp”). Ý nghĩa chính:
Theo quy định Điều 256a Tội sử dụng trái phép chất ma túy Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017,2025 các trường hợp sử dụng ma túy sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự như sau:
a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
c) Đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
d) Đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.Kết luận phần này: Từ 01/7/2025, người sử dụng trái phép chất ma túy trong những trường hợp nêu trên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều khoản mới. Vì vậy, người nghiện hoặc người đang quản lý sau cai cần tuyệt đối tuân thủ kế hoạch điều trị, tránh tái sử dụng để không rơi vào tình huống bị xử lý hình sự
| Tiêu chí | Người sử dụng trái phép chất ma túy | Người nghiện ma túy | Tội phạm ma túy |
| Bản chất | Có hành vi dùng ma túy trái phép (chưa chắc đã lệ thuộc) | Dùng ma túy và lệ thuộc (thể chất/ tâm lý) | Thực hiện hành vi cấu thành tội danh trong BLHS |
| Xử lý chính | Quản lý tại địa phương; xử phạt hành chính; có thể bị áp dụng biện pháp cai nghiện | Cai nghiện tự nguyện hoặc bắt buộc; quản lý sau cai | Truy cứu trách nhiệm hình sự (phạt tù, phạt tiền, án treo… tùy điều luật) |
| Điểm mới 2025 | Một số trường hợp sử dụng có thể bị xử lý hình sự | Không phải tội phạm chỉ vì “bị nghiện”; nhưng nếu tái sử dụng trong giai đoạn/ sau cai có thể bị xử lý hình sự theo trường hợp luật định | Không thay đổi bản chất: phải có hành vi thuộc các tội ma túy |
10/ Các tình tiết giảm nhẹ TNHS
- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
- Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
- Phạm tội do lạc hậu;
- Người phạm tội là phụ nữ có thai;
- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
- Người phạm tội tự thú;
- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
- Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
- Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
- Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.
Ngoài ra,khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc “tình tiết khác” là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Trong đó, căn cứ Điểm 5 Mục I Công văn 212/TANDTC-PC năm 2019 và Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP thì các "tình tiết khác" bao gồm:
- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, bà mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước:
- Bị cáo có anh, chị, em ruột là liệt sỹ;
- Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31 % trở lên;
- Người bị hại cũng có lỗi;
- Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;
- Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;
- Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;
- Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.
Và trong từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.