Căn cứ pháp lý:
Nội dung tư vấn:
Trong cuộc sống hiện nay, có rất nhiều hành vi nói dối, khai giả, bịa đặt..làm tổn hại tới uy tín, danh dự của người khác. Tuy nhiên, không phải lúc nào những hành vi đó cũng cấu thành tội phạm hình sự tội vu khống mà có thể hành vi đó chỉ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc là bị nhắc nhở, cảnh cáo. Bộ luật hình sự đang có hiệu lực thi hành quy định về tội vu khống tại điều 122. Đây là một trong số những tội xâm phạm tới uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác, mà những quyền thân nhân đó được pháp luật hình sự bảo vệ.
“Điều 122. Tội vu khống
1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với nhiều người;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người thi hành công vụ;
e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”
Phân tích cấu thành tội phạm của loại tội này
Là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Xâm phạm danh dự nhân phẩm của người khác.
Tội vu khống theo quy định của bộ luật hình sự gồm có ba dạng hành vi sau:
Dạng hành vi thứ nhất, người phạm tội có hành vi đưa ra những thông tin không đúng sự thật và có nội dung xúc phạm tới danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác như đưa tin người khác có hành vi thiếu đạo đức, có hành vi vi phạm pháp luật mặc dù người đó không có hành vi này. Hình thức này đưa ra những thông tin nói trên có thể dưới những dạng khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác…
Dạng hành vi thứ hai, người phạm tội tuy không đưa ra những thông tin không đúng sự thật và có nội dung xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự, uy tín người khác nhưng đã có hành vi loan truyền tiếp những thông tin này mà người khác đã đưa ra đến người tiếp theo bằng những hình thức khác nhau.
Dạng hành vi thứ ba, đây là dạng hành vi đặc biệt của hành vi tội vu khống. Người phạm tội có hành vi tố cáo người khác có hành vi phạm trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như công an, hải quan, viện kiểm sát,…mặc dù thực tế người này không có hành vi đó.
Lỗi của người thực hiện hành vi theo dạng thứ nhất của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội biết những thông tin mình đưa ra không đúng sự thật nhưng đã thực hiện nhằm xúc phạm danh dự hoặc nhằm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Lỗi của người phạm tội trong dạng hành vi thứ hai là lỗi cố ý. Người phạm tội biết thông tin mà mình loan truyền là sai sự thật nhưng đã loan truyền nhằm mục đích xúc phạm danh dự hoặc nhằm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thật thì hành vi này không cấu thành tội này.
Lỗi của người phạm tội trong dạng hành vi thứ ba là lỗi cố ý. Người phạm tội biết rõ người mình tố giác không có hành vi phạm tội nhưng vẫn tố giác họ.
Khung 1: phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm
Khung 2 : thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm
Hình phạt bổ sung: còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
=> từ hành vi “lên facebook nói xấu người khác, đăng tải hình ảnh không trung thực..." có thể bị xử lý.
Trường hợp xử lý đối với hành vi này, tuy rằng đã có dấu hiệu tội phạm, nhưng việc khởi tố hành vi phạm tội này thì vẫn cần phải điều tra xác minh cụ thể, rõ ràng, để không vu oan cho người khác.
Ngoài ra, nếu như không bị xử lý hình sự thì hình thức xử phạt khác có thể được áp dụng đối với hành vi của anh A là: xử lý vi phạm hành chính theo quy định sau:
Hoặc cũng có thể phải phụ thuộc vào hành vi cụ thể, xác minh thiệt hại và những căn cứ rõ ràng mà việc xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự mới được đặt ra, nếu không sẽ chỉ bị buộc công khai xin lỗi, phát sinh thiệt hại thì phải bồi thường cho bạn và công ty bạn. Việc xử lý này được thực hiện theo điều 25 Bộ luật dân sự: “Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền tự mình cải chính; yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai; yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại”
Từ những thông tin chúng tôi cung cấp, tư vấn cho bạn ở trên, bạn có thể tiến hành thực hiện theo gợi ý sau để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Lưu ý: trong thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, có thông tin liên quan tới hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bạn với bên công ty anh A. Bạn nên xem xét lại kỹ hợp đồng được ký kết giữa hai bên vì chúng tôi nhận thấy bên anh A có hành vi vi phạm hợp đồng, bạn có thể khởi kiện ra tòa đòi bồi thường và đòi lại phần tiền cọc mà bên A đã không trả cho bạn từ những hành vi và bản hợp đồng đã ký kết giữa hai bên.
Trân trọng